Điện ảnh đòi hỏi những trái tim lớn – Phần 2

Cái bến đò vắng khá heo hút của xã Xuân Thành giống hệt như cái bến đò quê tôi mà tôi đã tưởng nhớ khi ngồi viết kịch bản và phân cảnh. Có thể nói là tôi đã rất mừng khi gặp sông Chu. Họa sĩ Nguyễn Hữu Huân cũng đồng ý với tôi và anh nhanh chóng vẽ phác thảo những bối cảnh chính. Đó là ngôi nhà nhỏ bên bờ sông của bố con ông lái đò với khoảng sân nhỏ, nơi bé Nga hàng ngày tập nhảy dây, nơi có giàn bầu trĩu quả có treo chiếc lồng chim vành khuyên mà bé Nga thường ngày vui chơi, chăm sóc. Họa sỹ Nguyễn Hữu Huân đã dựng bối cảnh bằng tất cả tình yêu và nỗi nhớ quê hương lúc bấy giờ đang bị chia cắt bên kia bờ sông Bến Hải.
Phóng viên: Trong phim, ngoài ông lái đò do Tư Bửu đóng, chị cán bộ địch hậu do Thúy Vinh đóng…..người xem đặc biệt yêu quý và nhớ nhân vật bé Nga do Tố Uyên đóng. Có thể nói bé Nga là linh hồn của Chim vành khuyên. Vậy anh cho biết đã tìm thấy Tố Uyên như thế nào ?
Nghệ sĩ nhân dân Nguyễn Văn Thông: Đúng là vai bé Nga đã làm cho tôi lo lắng và mất nhiều công sức nhất. Tôi đã tổ chức tuyển chọn hàng trăm cô bé, nhưng vẫn chưa vừa ý. Một hôm, anh Nguyễn Đăng Bảy quay phim nói với tôi, anh có biết một cô bé tên là Tố Uyên, 13 tuổi, học sinh lớp 6 trường Vân Hồ, hát hay, múa giỏi, lại đang sinh hoạt ở Nhà văn hóa thiếu nhi Hà Nội. Tôi bảo anh Bảy đưa tôi đi gặp Tố Uyên. Quả là anh Bảy đã không nhầm, nhìn thấy Tố Uyên, tôi đã ưng ngay. Tôi bảo cô bé thử nhảy dây cho tôi xem, Tố Uyên vui vẻ nhảy ngay và nhảy rất điệu nghệ. Tôi hỏi cô bé có thích đóng phim không, cô bé gật đầu nhận lời. Tôi biết, tôi đã tìm thấy bé Nga rồi….Quả nhiên, khi vào phim, Tố Uyên đã đóng rất sinh động, tự nhiên, đầy cảm xúc. Tố Uyên đã thực sự nhập vào bé Nga, sống hết mình cho bé Nga và đã làm cho bé Nga sống mãi trong lòng người xem cho đến ngày hôm nay và mai sau nữa. Nghệ thuật có cái kỳ diệu của nó, gần như là may mắn vậy. Người nghệ sỹ sống hết mình cho nghệ thuật thì chính nghệ thuật lại làm cho anh sống mãi….
Phóng viên: Điều quan tâm nhất của ông đối với điện ảnh hôm nay là gì ?
Nghệ sĩ nhân dân Nguyễn Văn Thông: Điện ảnh của chúng ta đang khủng hoảng khi bước vào kinh tế thị trường, đó là điều có thật. Song tôi tin là điện ảnh Việt Nam ở tuổi 40 này sẽ vượt qua những khó khăn trước mắt để tiến lên. Điều mà tôi quan tâm nhất có lẽ là tâm huyết của những người làm điện ảnh. Không có một tình yêu lớn, một sự hy sinh quên mình, không làm điện ảnh được đâu. So với tất cả các ngành văn học, nghệ thuật thì người làm điện ảnh là những người gian khổ nhất, vất vả nhất, đòi hỏi sự hy sinh nhiều nhất. Nếu chỉ chăm chăm nghĩ đến tiền thù lao thì đừng nên bước vào nghề điện ảnh làm gì ?
Phóng viên: Xin cảm ơn ông về cuộc trò chuyện thoải mái này.
Lý Nguyên Anh – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 29(81)1999

Hưởng ứng cuộc vận động xây dựng và chỉnh đốn Đảng

Tự phê bình và phê bình: phải đi vào vấn đề cụ thể
Không phải ngẫu nhiên, cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, tiến hành tự phê bình và phê bình được mở ra cùng lúc với việc triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2). Mục đích chính của cuộc vận động này không gì khác là nhằm xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao sức chiến đấu và vai trò lãnh đạo, nâng cao uy tín và thanh danh Đảng, thực hiện quan hệ máu thịt với nhân dân, Đảng – dân một ý chí. Ngoài ý nghĩa trước mắt này, về lâu dài, tự phê bình và phê bình còn là một “màng lọc’ bảo vệ Đảng. Trong Di chúc của Bác Hồ cách đây 30 năm, Người đã chỉ rõ: “Trong Đảng thực hành Dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng”.
Cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng bắt đầu từ mục tiêu nhằm khắc phục ngay những yếu kém đang tồn tại trong tổ chức Đảng các cấp hiện nay. Đó là” Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, tình trạng tham nhũng, quan liêu, lãng phí của một bộ phận cán bộ, đảng viên có chiều hướng phát triển nghiêm trọng hơn. Việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ không nghiêm, bộ máy tổ chức của Đảng và Nhà nước chậm được củng cố và đổi mới” (NQTW 6 – lần 2). Mười nhiệm vụ của Ban chấp hành Trung ương Đảng yêu cầu các tổ chức Đảng và mọi cán bộ, Đảng viên phải thực hiện nêu trong NQTW 6 – lần 2 có thể coi như những giải pháp chung nhất để đạt được các mục tiêu này. Trong số đó, tự phê bình và phê bình là khâu đột phá và cũng là khâu then chốt để bảo đảm cho các giải pháp khác đạt kết quả tốt nhất. Bởi lẽ sức mạnh của mỗi cá nhân, tổ chức nào cũng phải bắt nguồn và duy trì trên cơ sở nhận rõ chính những mặt mạnh và cả yếu điểm của bản thân.
Cần tiến hành phê bình và tự phê bình như thế nào để đạt được cả mục tiêu trước mắt và lâu dài ?. Với ý nghĩa là chủ thể và cũng là đối tượng của cuộc vận động, mỗi cán bộ Đảng viên, mỗi tổ chức Đảng chỉ có thể hoàn thành trọng trách của mình nếu quyết tâm tự đổi mới chính mình. Muốn vậy, tự phê bình và phê bình phải khắc phục cho được cách làm chung chung, qua loa chiếu lệ của nhiều đợt sinh hoạt chính trị trước đây. Nói cách khác, tự phê bình và phê bình phải gắn liền với những vấn đề cụ thể.
Thông thường phẩm chất, năng lực và đạo đức của mỗi cán bộ Đảng viên được thể hiện qua tinh thần trách nhiệm khi thực hiện công việc chuyên môn, trong các mối quan hệ xã hội và nhất là qua lối sống hàng ngày. Uy tín của tổ chức Đảng, niềm tin của người dân với Đảng cũng bắt nguồn từ những ấn tượng tốt đẹp khi đón nhận những biểu hiện tốt đẹp đó và ngược lại. Bởi thế, nếu việc tự phê bình và phê bình được tiến hành với cách làm gắn liền cùng đánh giá, nhìn nhận những biểu hiện cụ thể, những công việc cụ thể của Đảng viên, của tổ chức cơ sở Đảng, thì chẳng những điều chỉnh, hạn chế kịp thời những việc làm sai trái, mà còn đưa cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng trở thành một đợt sinh hoạt chính trị mang ý nghĩa cách mạng nhất.
Hoàng Long – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 30(82)1999

Điện ảnh đòi hỏi những trái tim lớn – Phần 1

Đạo diễn, Nghệ sĩ nhân dân Nguyễn Văn Thông là một trong những học sinh khóa đạo diễn đầu tiên của Trường Điện ảnh Việt Nam. Năm 1961, ông làm phim tốt nghiệp và ngay lập tức, bộ phim truyện tốt nghiệp Chim vành khuyên của ông có tiếng vang trong và ngoài nước. Bộ phim đã đoạt giải thưởng Bông sen vàng trong Liên hoan phim Việt Nam lần thứ nhất và đoạt giải xuất sắc trong Liên hoan phim Quốc tế Caclôvi Vari ( Tiệp Khắc cũ). Gần 40 năm qua, bộ phim Chim vành khuyên vẫn giữ nguyên giá trị về nội dung và nghệ thuật, trở thành bộ phim kinh điển trong lịch sử nền phim truyện Việt Nam.
Nhân kỷ niệm 40 năm ngày phim truyện Việt Nam (1959 – 1999), chúng tôi đã có dịp gặp gỡ đạo diễn, Nghệ sĩ nhân dân Nguyễn Văn Thông và có cuộc trao đổi sau đây:
Phóng viên: Thưa đạo diễn, Nghệ sĩ nhân dân Nguyễn Văn Thông, xin ông kể đôi nét về quá trình thực hiện bộ phim Chim vành khuyên và những kỷ niệm sâu sắc nhất của ông về thành công của bộ phim này ?
Nghệ sĩ nhân dân Nguyễn Văn Thông: Trước khi đi học đạo diễn điện ảnh, tôi đã từng viết văn và đã in khá nhiều truyện ngắn trên các báo. Tôi lục giở các truyện ngắn đã viết và tìm thấy truyện Câu chuyện một bài ca in trong Văn nghệ Quân đội số 4-1959. Tôi đọc kỹ lại truyện ngắn này và thấy rằng, nó có thể là chất liệu rất tốt cho một kịch bản phim. Tuy nhiên, để có thể chuyển thành kịch bản, tôi không thể bể nguyên si truyện ngắn này vào được, bởi đó là câu chuyện rất nhiều nội tâm, lại hầu như không có cốt truyện chặt chẽ theo yêu cầu của kịch bản phim truyện. Tôi nằm trên gác xép nhà một người bạn và suy nghĩ. Cuối cùng, tôi quyết định chỉ lấy một chi tiết trong chủ đề câu chuyện, nó chỉ nằm trong mươi dòng của truyện ngắn, nhưng là mươi dòng quan trọng nhất, kể về sự hi sinh của bố con ông lái đò trong vùng địch hậu khu V. Kịch bản được viết rất nhanh, tôi nhờ anh Cao Thụy dịch sang tiếng Nga và nộp lên cho thầy A.Giđa đạo diễn người Monđavia (Liên Xô cũ) một người thầy tài năng nghiêm khắc và khó tính. Chỉ không đầy tuần sau, tôi đã được ông thầy nghiêm khắc mời lên gặp và tuyên bố: Kịch bản rất tốt, có thể làm phim, viết ngay kịch bản phân cảnh để đưa vào sản xuất. Được lời như cởi tấm lòng, tôi lại leo lên căn gác xép và ngồi lì hàng tháng để hoàn thành kịch bản phân cảnh cho bộ phim tương lai, đứa con đầu lòng của tôi có tên Chim vành khuyên.
Phóng viên: Thưa ông, sao ông lại chọn vùng quê Thanh Hóa với dòng sông Chu để làm bối cảnh thực hiện bộ phim này ?
Nghệ sĩ nhân dân Nguyễn Văn Thông: Sau khi kịch bản phân cảnh được duyệt, Đoàn làm phim nhanh chóng được thành lập, chúng tôi lên đường đi chọn cảnh. Khi vào Thanh Hóa, nhìn thấy sông Chu vùng thượng nguồn, tôi nghĩ rằng tôi đã gặp lại dòng sông miền Trung Thanh Hóa, quê hương. Đó là khúc sông chảy qua huyện Thọ Xuân, xã Xuân Thành, với hai bờ là bãi dâu, nương ngô xanh mướt trù phú.
Lý Nguyên Anh – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 29(81)1999

Những sai phạm của phòng thi hành án thị xã Ninh Bình

Gần đây trên một số phương tiện thông tin đại chúng và dư luận tỉnh Ninh Bình đã rộ lên nhưng vụ việc tiêu cực của một số cán bộ, nhân viên Sở Tư Pháp Ninh Bình. Điển hình là vụ thu gom mua bán trẻ em trên quy mô rộng và mức độ tội phạm nguy hiểm, sử dụng bằng giả trong việc tuyển công chức vào ngành Tư pháp tỉnh… Trong thời gian công tác tại Ninh Bình để tiếp tục làm rõ vụ mua bán trẻ em, nhóm phóng viên điều tra báo Tuần du lịch lại tiếp tục nhận được thông tin về những sai phạm của phòng thi hành án TX Ninh Bình trong việc thi hành các vụ án có liên quan đến Ngân hàng Thương mại cổ phần nông thôn Ninh Bình và bị đơn là ông Nguyễn Văn Thực và bà Phạm Thị Giang trú tại số 8 đường 10 phường Bích Đào, TX Ninh Bình. Tại phiên tòa, nội dung vụ án đã được làm rõ; trong các ngày 25/12/1995 và 5/9/1996 ông Thực và bà Giang vay của Nhân hàng thương mại cổ phần nông thôn Ninh Bình số tiền gốc tổng cộng là 89 triệu đồng (lần thứ nhất 85 triệu đồng). Tài sản thế chấp là căn nhà ba tầng và 39 mét vuông đất cùng các công trình phụ… có giấy chứng nhận quyền sở hữu. Do không có khả năng thanh toán nợ đúng hạn nên vụ việc phải ra tòa giải quyết. Tại phiên xử này, Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình đã tuyên (bản án phúc thẩm số 34 ngày 19/10/1998): buộc gia đình ông Thực bà Giang phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần nông thôn Ninh Bình số tiền cả gốc và lãi là 126.977.733 đồng và chịu án phí dân sự sơ thẩm là 6.348.786 đồng; đồng thời tiếp tục duy trì biện pháp khẩn cấp tạm thời bằng hình thức kê biên tài sản của gia đình ông Thực bà Giang để đảm bảo thi hành án theo quyết định số 02 ngày 22/5/1998 của Tòa án nhân dân thị xã Ninh Bình
Ngày 16/12/1998, Hội đồng thi hành án đã thực hiện kê biên định giá tài sản thế chấp của gia đình ông Thực bà Giang. Tổng số tiền định giá là 142/100/000 đồng (theo biên bản có 13 chữ ký lập ngày 16/12/1998). Số tài sản này được giao cho ông Thực, bà Giang quản lý trong vòng 30 ngày kể từ ngày kê biên định giá.
Ngày 9/2/1999, theo yêu cầu của ông Nguyễn Quốc Thể, chấp hành viên trưởng đội thi hành án TX Ninh Bình và ông Giang thành Nam, cán bộ giúp việc, bà Nguyễn Thị Huệ giám đốc Ngân hàng thương mại cổ phần nông thôn Ninh Bình đã trao cho các ông nói trên tờ giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất mang tên ông Nguyễn Văn Thực (hiện là giấy tờ tài ản thế chấp thuộc sở hữu của ngân hàng thương mại cổ phần nông thôn Ninh Bình đã đòi lại để quản lý theo quy định hoạt động ngân hàh nhưng không được.
Những sai phạm của đội thi hành án Thị xã Ninh Bình
Sau 30 ngày kể từ khi kê biên định giá tài sản, gia đình ông Thực bà Giang không có cách nào khác để thực hiện bản án phúc thẩm ngày 19/10/1998. Như vậy trách nhiệm của đội thi hành án buộc phải tổ chức bán ngôi và đất thế chấp của ông Thực, bà Giang. Lẽ ra việc bán phải được công khai, nhưng theo ông Nguyễn Danh Hào, Chánh thanh tra Ngân hàng Nhà nước tỉnh Ninh Bình và bà Nguyễn Thị Huệ cho biết: việc mua bán nhà diễn ra có những biểu hiện mờ ám. Cụ thể: trong công văn số 99 ngày 13/2/1999 của đội thi hành án gửi Ủy ban nhân dân phường Bích Đào và phòng địa chính Thị xã Ninh Bình có ghi: “Đến nay ông Thực, bà Giang đã nộp được 89 triệu đồng trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần nông thôn Ninh Bình…”. Và đề nghị Ủy ban nhân dân phường, phòng địa chính thị xã cấp thủ tục cho phép ông Thực bà Giang bán nhà. Trong khi đó Ngân hàng thương mại cổ phần nông thôn Ninh Bình chưa nhận được 1 xu nào…
Theo 2 giấy xác nhận của ông Phạm Hồng Khánh ký ngày 7 và 22/3/1999, thừa nhận ông đã mua ngôi nhà và đất của ông Thực bà Giang với số tiền 165 triệu đồng và đã giao nhận đầy đủ giấy tờ hợp lệ. Một bất hợp lý được bộc lộ là gia đình ông Khánh đã dọn về ở ngày 28 tháng Chạp âm lịch năm 1998, tức ngày 13/2/1999. Có nghĩa là thủ tục của Ủy ban nhân dân phường và phòng địa chính thị xã không thể có trước ngày ông Khánh dọn về ở. Số tiền bán được đã vượt quá so với giá định biên (142.100.000 đồng) và đã đủ điều kiện để đội thi hành án giao cho Ngân hàng thương mại cổ phần nông thôn Ninh Bình số tiền 126.977.733 đồng theo bản án. Nhưng ngày 19/3/1999, đội thi hành án Thị xã Ninh Bình có giấy báo Ngân hàng thương mại cổ phần Nông thôn Ninh Bình đến nhận số tiền 89 triệu đồng, mới chỉ tương ứng với tiền gốc ? ! Không đồng tình với cách giải quyết của Đội thi hành án, Ngân hàng thương mại cổ phần nông thôn Ninh Bình đã có công văn số 32 ngày 22/3/1999 gửi ông Đội trưởng đội thi hành án nêu rõ: vì chưa trả đủ số tiền theo bản án phúc thẩm số 34, nên Ngân hàng kiên quyết không nhận riêng phần tiền gốc. Mặt khác đề nghị Đội thi hành án thực hiện nghiêm túc bản án nêu trên, trong thời gian chưa thi hành án xong, nhất thiết Đội thi hành án phải trả lại giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và sử dụng đất đã mượn. Cùng với công văn nói trên Ngân hàng thương mại cổ phần nông thôn Ninh Bình đã gửi công văn tới Ủy ban nhân dân phường Bích Đào, Phòng địa chính, Sở Tư pháp với nội dung tương tự. Lạ thay đến ngày 7/8/1999 Ngân hàng thương mại cổ phần nông thôn Ninh Bình chưa nhận sự hồi âm hay cách giải quyết nào của các cơ quan nói trên.
Nhóm PV điều tra-Du lịch-Tổng cục du lịch-Bộ VH-TT-DL-34(86)-1999

Đảo Cò

Tối không vào đảo đó
E vỡ cả mạn thuyền
Sợ loại chấn trượt ngã
Ai dắt vầng trăng lên?
Đảo Cò đảo thần tiên
Trăng hiện lên lối cỏ
Tơ non từng ngọn gió
Trên cánh cò ăn đêm
Cò hương và cò trắng
Đêm gọi nhau thưa dần
Cò túng bán hết ruộng
Đường cùng đi kiếm ăn
Băn khoăn con cò lửa
Soi mãi không sáng trời
Chín bồ chữ vẫn đói
Văn tự dán đầy người
Tới hai bàn tay trắng
Giữa hồ đảo và trời
Tôi chỉ có văn tự
Nhưng không chữ không lời
Hồ Núi Cốc 1992
Lời bình của Trinh Đường
Có lắm chi phái trong họ hàng nhà cò: cò trắng, cò quắm, cò hương, cò ma, cò bợ, cò lửa… cả con cò trong ca dao, hình ảnh một bà mẹ tần tảo nuôi chồng, nuôi con…
Tuyên truyền cò túng bẩn phải bán ruộng cho vạc với giao hẹn: vạc ăn đêm, cò ăn ngày, văn tự dán đầy người.
Tôi có đến thăm những vườn cò U Minh, Ngọc Hiển. Chiều cò đi ăn bay về rợp trời như mây. Một cái thúng lót lá, lót rác đặt vào nửa chiều hôm trước sáng hôm sau mang về một thúng trứng tướng. Du khách đi nhặt chim non từng thuyền, đem bán chợ miệt trên để lo cái ăn đánh giặc. Ở đây, nơi nào có nước, nơi ấy đầy cá tôm cộng với việc chia vườn quản lý, nên các vườn chim, sân chim ngày một đông đặc.
Tôi cũng được Hội nhà văn Hà Nội đưa đi chơi Hồ Núi Cốc. Truyền thuyết đôi tình nhân và phong cảnh núi Văn (đã bị phá làm đá), núi Võ hấp dẫn du khách không kém đảo Cò. Điều kiện khách quan không như ở Nam Bộ nên cò ở đây không nhiều, chỉ đủ để nhìn cho vui mắc và yên lòng vì rừng không bị hay ít bị phá, nhưng với tác giả thì ít hay nhiều không mấy quan trọng đối với việc cấu tạo của bài thơ.
Toàn bài, tác giả mượn hoàn cảnh cò để nói về mình. Cò có đến chín bồ chữ vẫn đói vẫn túng bấn, phải bán ruộng cho vạc đi ăn đêm, còn mình ăn ban ngày, nhưng cuộc sống vẫn khó khăn nên phải lần mò đi ăn cả ban đêm, văn tự không nơi cất đành phải dán đầy người.
Thương thân cò khổ, giữa đảo thần tiên, càng thương tác giả cũng túng bấn, như cò viết văn tự phát mại cả chính mình nhưng lại là một văn tự không chữ, không lời.
Hay đây là “kinh không có chữ mới là chân kinh”? Hay nổi khổ không biết san sẻ, thổ lộ với ai đành phải im lặng nuốt vào lòng? Qua bài thơ này, du khách càng hiểu thêm đời sống vất vả nhưng cũng rất tình cảm của con người Việt Nam.
Hiền Mặc Chất – Tuần Du lịch – Số 39(91) 27/9 -4/10/1999

Công ty cổ phần khách sạn Tây Nguyên

Được Ủy ban Nhân dân tỉnh Daklak phê duyệt và ra quyết định chuyển khách sạn Tây Nguyên – một phần tài sản thuộc Công ty du lịch Daklak – thành “Công ty cổ phần khách sạn Tây Nguyên” ngày 21-11-1998 công ty đã tổ chức đại hội cổ đông để thông qua điều lệ, phương án kinh doanh, bầu Hội đồng quản trị và bầu Chủ tịch Hội đồng quản trị. Trong số 34 cổ đông ban đầu thì công ty cổ phần khách sạn Tây Nguyên có 9 cổ đông, chiếm gần 27% số cổ đông. Công ty có người mua cổ phiếu cao nhất là 50 triệu đồng, thấp nhất là 1,5 triệu đồng (mệnh giá cổ phiếu 100.000 đồng). Công ty cổ phần khách sạn Tây Nguyên có 41% vốn của cán bộ công nhân viên công ty du lịch, 52% vốn của Nhà nước và 7% vốn của các cổ đông khác. Đây là công ty cổ phần đầu tiên ở Daklak thực hiện Nghị định 44/NĐ-CP ngày 29/6/1998 của Chính phủ.
Năm 1999 là năm đầu tiên Công ty cổ phần khách sạn Tây Nguyên tổ chức thực hiện kế hoạch kinh doanh với loại hình doanh nghiệp mới. Vượt qua bỡ ngỡ ban đầu công ty đã đạt được kết quả khả quan trong quý I năm 1999: doanh thu 147.608.000 đồng tăng 17% so với quý I năm 1998. Thu nhập bình quân của người lao động quý I năm 1999 là 774.000đồng/người/tháng, tăng 22,5% so với quý I năm 1998. Lợi nhuận cổ tức 1,5%/tháng. Nộp thuế tăng 17% so với quý I năm 1998. Trong quý I năm 1999 Công ty đã đầu tư trên 40 triệu đồng mua sắm trang thiết bị phục vụ khách trong đó chủ yếu trang bị cho phòng ngủ, nhờ vậy mà công suất phòng ngủ của khách sạn trong quý I năm 1999 đạt 65,07% tăng gần 5% so với quý I năm 1998. Riêng tháng 3 năm 1999 đạt 80%, cao nhất trong số các khách sạn trên địa bàn tỉnh Daklak.
Đạt được kết quả trên trước hết là việc thực hiện mô hình cổ phần hóa là đúng hướng, đã thu hút vốn nhàn rỗi đầu tư cho kinh doanh, quyền lợi của người lao động gắn liền với Công ty và đồng vốn bỏ ra nên họ có trách nhiệm hơn. Mỗi người đều thực hiện nhiệm vụ được phân công một cách tự giác như làm cho chính mình. Họ tiết kiệm chi phí đến mức tối đa, tính toán kỹ khi mua sắm trang thiết bị. Vì vậy vốn không bị thất thoát, vốn được đầu tư có mục đích và có hiệu quả. Công tác tổ chức dần dần ổn định, khi chuyển sang cổ phần hóa Công ty tiếp nhận và bố trí việc làm cho 100% lao động công tác trước đây ở khách sạn. Các chế độ chính sách đối với người lao động như tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế v.v… được thực hiện kịp thời, đầy đủ. Từ đó người lao động gắn bó mật thiết hơn với đơn vị. Anh chị em luôn đầu tư suy nghĩ để tìm ra cách làm tốt nhất, hiệu quả nhất để thu hút khách đến với khách sạn và bán ra được nhiều hàng hóa.
Trong quý II năm 1999 Công ty cổ phần Khách sạn Tây Nguyên sẽ đầu tư một tỷ đồng xây dựng mới nhà hàng có sức chứa 250 khách và một số phòng ngủ phục vụ khách quốc tế. Đến nay phần thiết kế đã hoàn thành, chờ ý kiến của các ngành chức năng là thực hiện. Mặt khác công ty sẽ đầu tư 155 triệu đồng từ nguồn khấu hao tài sản năm 1998 và 1999 để nâng cấp phòng ngủ và các trang thiết bị khác nhằm phục vụ tốt hơn khách quốc tế cũng như khách trong nước đến nghỉ tại khách sạn, đồng thời Công ty sẽ mở rộng hoạt động kinh doanh thương mại dịch vụ cũng như kinh doanh du lịch nội địa.
Qua 3 tháng hoạt động theo mô hình mới, vướng mắc lớn nhất của Công ty cổ phần khách sạn Tây Nguyên hiện nay là sự không thống nhất về chính sách ưu đãi giữa các Luật làm hạn chế đến kết quả hoạt động của đơn vị cụ thể là: Theo các điều 14, 30 và 33 Luật đầu tư trong nước thì đơn vị được giảm 50% trong 3 năm về thuế doanh thu; miễn 4 năm đầu và giảm 50% trong 5 năm tiếp theo về thuế lợi tức, nhưng Luật thuế giá trị gia tăng chẳng những không được giảm mà còn phải thực hiện thuế suất 10%, còn thuế thu nhập doanh nghiệp chỉ được giảm 50% trong 2 năm đầu. Đề nghị các ngành chức năng ở tỉnh Daklak và Trung ương xem xét điều chỉnh một số nội dung của 2 Luật thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp cho phù hợp với Luật đầu tư trong nước tạo điều kiện cho Công ty cổ phần khách sạn Tây Nguyên hoạt động tốt hơn, đồng thời tạo điều kiện cho các doanh nghiệp khác yên tâm hơn khi thực hiện cổ phần hóa.
Nguyễn Thanh Linh – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 29(81)1999

Nhân mở tuyến đường bay Hồng Kông – Đà Nẵng

Lâu nay, chuyện đưa khách quốc tế đi, đón khách quốc tế đến ở các sân bay quốc tế Nội Bài (Hà Nội) và sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất (Thành phố Hồ Chí Minh) là một chuyện bình thường. Song với sân bay quốc tế Đà Nẵng, chuyện đón và đưa khách du lịch từ Hồng Kông đến Đà Nẵng và từ Đà Nẵng đi Hồng Kông trong đêm 17.6.1999 của hãng hàng không Phi Long (Dragon Air), quả là một sự kiện đặc biệt.
Để có được chuyến bay trực tiếp Hồng Kông – Đà Nẵng này, các đơn vị như khách sạn Furama, chi nhánh Công ty Đông Á phải vất vả cả năm trời, tốn hàng trăm triệu đồng. Riêng lãnh đạo thành phố, ngành du lịch Đà Nẵng cùng với các ngành liên quan cũng đã tổ chức nhiều cuộc họp, bàn bạc tìm ra hướng đi cho ngành du lịch trong việc mở đường bay trực tiếp này được thực hiện. Chuyện các đồng chí lãnh đạo thành phố, các quan chức ngành du lịch, đông đảo các nhà báo (có người từ Thành phố Hồ Chí Minh ra) sân bay đón đoàn khách đầu tiên đến sân bay Đà Nẵng trực tiếp từ nước ngoài mà k cần quá cảnh ở Hà Nội hay Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy đây là một sự kiện hết sức có ý nghĩa với ngành du lịch Đà Nẵng. Một người bạn trong đoàn đón khách du lịch tâm sự: “Kể cũng lạ, lần đầu tiên đón khách quốc tế đi trực tiếp đến Đà Nẵng sao mà hồi hộp”. Đó cũng chính là tâm trạng chung của nhiều người có mặt tại sân bay hôm ấy.
Đúng 21 giờ, chiếc Air Bus 321 của hãng hàng không Dragon Air đưa 192 khách xuống sân bay và chỉ sau 1 giờ đồng hồ, đưa 120 khách du lịch từ Đà Nẵng đi Hồng Kông.
Bốn ngày lưu lại Đà Nẵng và đi tham quan phố cổ Hội An, Thánh Địa Mỹ Sơn, Cố đô Huế đã để lại nhiều ấn tượng tốt đẹp cho khách du lịch Anh, Mỹ, Pháp, Hồng Kông. Có vị khách tâm sự: “ Tôi không ngờ ở miền Trung Việt Nam lại có một khách sạn như Furama đẹp không thua kém những khách sạn có tiếng thế giới. Đặc biệt bãi tắm Bắc Mỹ An thật đẹp và trong lành. Còn các du khách của Đà Nẵng đi du lịch Hồng Kông thì thật là thoải mái, dễ chịu. Họ không phải chạy đôn chạy đáo để làm visa thị thực xuất cảnh ở hai đầu đất nước cách xa hàng trăm cây số như trước đây. Buổi chiều ăn cơm chia tay với gia đình, xách vali ra sân bay, 5 phút làm thủ tục, sau hai giờ đã đến Hồng Kông. Những ngôi nhà chọc trời, những đường phố suốt đêm ngày rực rỡ ánh đèn, nhộn nhịp cảnh mua bán, những hàng hóa, đồ lưu niệm rẻ đến bất ngờ….là những điều thích thú của chuyến đi đối với du khách Việt Nam. Song dư âm dễ chịu trong chuyến đi còn ở chỗ những thủ tục nhanh chóng, dễ dàng của sân bay Quốc tế Đà Nẵng đối với du khách.
Với góc độ là người theo dõi sự kiện ngày 17/6 của du lịch Đà Nẵng, tôi mong rằng đây là sự khởi đầu tốt đẹp của chương trình hành động Du lịch của Đà Nẵng và các tỉnh miền Trung; Tổng cục du lịch và ngành Hàng không Việt Nam nên sớm có quyết định một phương án tổ chức những chuyến bay đưa khách du lịch vào Đà Nẵng vào có thể đi hai đầu đất nước và ngược lại. Nếu được như vậy khách du lịch quốc tế sẽ có thời gian lưu lại lâu hơn, thuận tiện hơn trong việc tham quan tìm hiểu các giá trị văn hóa, các danh lam thắng cảnh của đất nước ta, không bị ràng buộc “vào cửa nào, ra cửa ấy”.
Sự thành công của chuyến bay là cơ bản, kết quả ấy không chỉ là sự cố gắng, kiên trì của Ban Giám đốc khu nghỉ mát Furama, chi nhánh công ty Đông Á mà còn ở sự chỉ đạo sâu sát của lãnh đạo thành phố Đà Nẵng, Sở du lịch Đà Nẵng và sự phối hợp nhịp nhàng của các cơ quan hữu quan như Công an, Hải quan, cán bộ Sân bay Quốc tế Đà Nẵng.
Tuy nhiên, một số quan chức địa phương và nước ngoài trực tiếp tham gia tổ chức cho đường bay này đều cho rằng giá như việc quản lý, điều hành ở Sân bay Đà Nẵng có sự tập trung thống nhất để làm thủ tục cho máy bay vào Việt Nam nhanh hơn (vì có những cuộc hẹn làm việc phải mất hai tuần mới có trả lời), tập trung ở một đầu mối (chứ không phải 5 đầu mối như hiện nay) thì việc tổ chức các chuyến bay trực tiếp từ nước ngoài đến Đà Nẵng sẽ thuận lợi hơn.
Dẫu sao, việc tổ chức được đường bay trực tiếp đến Đà Nẵng vẫn được khẳng định là một thành công đáng kể mở ra một tương lai đầy hứa hẹn cho du lịch Đà Nẵng phát triển. Điều đó báo hiệu một sự khởi đầu tốt đẹp cho du lịch Đà Nẵng, thiết thực khẳng định Đà Nẵng – Việt Nam là điểm hẹn của thiên niên kỷ mới.
Văn Phong – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 28(80)1999

Chạm tới nỗi đau của đá

Trong khu di tích nhà tù Hỏa Lò, trên sân hành quyết rộng chừng 200 mét vuông với cột máy chém. Đặc trưng thời Trung cổ, trên bức tường phía tây ngăn cách với phần đất đã liên doanh để xây Tháp Hà Nội, hai nhà điêu khắc Khúc Quốc n và Lê Liên đang khởi công xây dựng một bức tượng đài hoành tráng để ghi lại những kỳ tích của những người yêu nước và cách mạng Việt Nam trong cuộc đấu tranh suốt một thế kỷ giành độc lập, tự do cho tổ quốc.
Chính vì ý nghĩa quan trọng đó mà ngay từ khi di tích lịch sử nhà tù Hỏa Lò được nhà nước công nhận và xếp hạng, Thành ủy và Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội đã nghĩ tới việc xây dựng một tượng đài có tầm cỡ trên sân hành quyết của nhà tù khét tiếng này. Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội đã chỉ thị cho Sở Văn hóa Hà Nội tổ chức cuộc thi Mẫu tượng đài Hỏa Lò. Hơn một năm sau đã có trên 20 phác thảo của năm đơn vị gửi tới tham dự thi đó là: Bộ xây dựng, Hội Kiến trúc sư Việt Nam, Trường Đại học Mỹ thuật Công nghiệp và Công ty Mỹ thuật Nội ngoại thất AIE Co., Ltd. Cuối năm 1997, phương án của hai nhà điêu khắc Khúc Quốc n và Lê Liên (Công ty Mỹ thuật Nội ngoại thất AIE Co., Ltd) được Hội đồng nghệ thuật xét chọn và được Ủy ban nhân dân thành phố ra quyết định thực hiện (trên ý tưởng căn bản). Sau đó là hai năm trời, hai nhà điêu khắc Khúc Quốc n và Lê Liên lao vào sáng tác để hoàn chỉnh đến từng chi tiết phác thảo Tượng đài.
Ngày 3-2-1999, công trình đài tưởng niệm các chiến sĩ yêu nước và cách mạng tại nhà tù Hỏa Lò được chính thức khởi công xây dựng. Đây là công trình mỹ thuật tượng đài ngoài trời có chất lượng sáng tạo độc đáo nhất từ trước tới nay ở Việt Nam. Bức phù điêu khối âm hoành tráng, mang đậm tính chất sử thi, có giá trị lịch sử và nghệ thuật đặc biệt. Trên diện tích 90 mét vuông đá Granit đen khai thác từ Bảo Lộc – Lâm Đồng, các nhà điêu khắc sẽ đục, chạm để thể hiện hình ảnh mười hai nhân vật tù nhân với các tư thế khác nhau, diễn tả các tâm trạng khác nhau của nhiều thế hệ những người yêu nước và cách mạng Việt Nam từ thời Văn thân đến khi có Đảng lãnh đạo. Với tư tưởng chủ đề chung là “kiên cường – bất khuất – vinh quang đời đời”, những nhân vật trong bức phù điêu thực sự làm sống dậy trong long người cả chiều dài lịch sử quật cường của dân tộc, ta nghe vang trên bức tường đá đen câm lặng tiếng xích sắt va đập loảng xoảng, những tiếng thét căm hờn, uất hận và dũng mãnh, những lời nhắn nhủ lặng lẽ nhưng quyết liệt của những người chiến sỹ trước khi ra pháp trường: “Chào các đồng chí ở lại. Tôi đi!” Những nếp gấp mạnh mẽ trên nền phù điêu cũng như những hình nhân vật được đục lõm (âm bản) hòa quyện vào nhau tạo nên Thời gian đồng hiện và Không gian đa chiều vừa khiến cho Tượng đài mang dáng vẻ hiện đại của khối hình lập thể, lại vừa gợi không khí huyền thoại, cổ xưa như những họa tiết trên mặt trống đồng Đông Sơn, Ngọc Lũ.
Có thể nói hai nhà điêu khắc Khúc Quốc n và Lê Liên đã thực sự sáng tạo trong ý tưởng tổ chức không gian khép mở khiến bức phù điêu hoành tráng ấy chợt như có như không, một phong cách thể hiện mới mẻ ở Việt Nam chưa ai làm, chưa đâu có. Các nhà điêu khắc sử dụng khối âm (vốn không phải là khối thực) ở đây một cách thật đắc địa, hiện thực như được đẩy xa hơn, người xem như được ru vào quá khứ. Cũng nhờ vào những khối không thực đó mà ánh sáng ở các thời điểm khác nhau trong ngày tác động lên bề mặt phù điêu làm cho những hình tượng nhân vật tạo nên một thực thể phức điệu cực kỳ phong phú, gợi trí tưởng tượng rộng rãi cho người xem. Cũng chính cái khối âm không thực ấy đã mở một đường biên hết sức rộng rãi cho sức sáng tạo của người nghệ sĩ. Từ yêu cầu hết sức hiện thực, nhưng các nghệ sĩ điêu khắc ở đây đã làm một việc ngược lại: sáng tạo một tác phẩm phi hiện thực để tạo hiệu quả thực nhất.
Một điểm thành công nổi bật đáng nói nữa đó là ý tưởng tổ chức không gian của các tác giả rất là phù hợp với mặt bằng và không gian hiện có của sân hành quyết của Nhà tù Hòa Lò (phần còn lại). Trên mặt bằng 200 mét vuông bị quay chặt bởi bốn phía tường ngăn bức phù điêu như lặn sâu vào trong tường, không một chút khoa trương, không một lời nói lớn, mà tạo được ấn tượng vừa đột ngột, vừa mềm mại, có sức lay động giản dị câm lặng, có sức lan tỏa của những hồi âm vang vọng.
Bức phù điêu nghiêng nghiêng như kéo bức tường nhà tù sắp sập xuống vĩnh viễn gợi cho người xem cảm xúc trực tiếp vào tư tưởng chủ đề tác phẩm, đồng thời còn gây được ấn tượng về sự vững bền bất tử.
Bạn hãy thử đặt tay lên vầng trán, những bộ ngực trần lõm sâu trong đá đen kia, bạn sẽ như tôi, cảm thấy có tiếng trái tim đang dồn dập. Trái tim của những con người bất tử ấy sẽ còn mãi với thời gian, đồng hành cùng lịch sử.
Để kết thúc bài viết nhỏ này, tôi xin được mượn lời nhà phê bình nghệ thuật Thái Bá Vân nói với Khúc Quốc n và Lê Liên trước khi anh vĩnh biệt chúng ta:
Các bạn của tôi! Các bạn đã chạm tới nỗi đau của đá!
Trịnh Thanh Sơn – Tuần Du lịch – Số 38(90) 20 -27/9/1999

Muhammed Ali – Người phản đối Mỹ xâm lược Việt Nam, võ sĩ quyền anh tài năng của thời đại – Phần 2

Ba năm sau, công chúng bắt đầu chất vấn việc Ali không gia nhập quân đội trong chiến tranh Việt Nam. Anh biện minh “Tôi chẳng có thù hằn gì với những người Việt Cộng cả” – Đây là một trong nhưng lời tuyên bố đanh thép phản đối Mỹ xâm lược Việt Nam vào thời kỳ đó. Chính phủ kết tội anh trốn quân dịch và Hiệp Hội Quyền Anh Mỹ thu hồi giấy phép của anh. Anh ăn không ngồi rồi trong 3 năm rưỡi. Năm 1971, Tòa án tối cao tuyên bố chính phủ hành động như vậy là không thỏa đáng. Nhưng Ali không cho là Hiệp hội Quyền Anh chơi xấu anh, vì họ là đã làm những gì họ cho là đúng. Đối với anh, anh đã hoàn toàn lấy lại được tiếng tăm của mình trên võ đài: Hạ knock – out George Foreman ở hiệp thứ 8 trong trận đấu ở Zaire. Trong trận đấu này anh được mệnh danh là “Kẻ động rừng”.
Có lẽ anh là vận động viên ký tên nhiều nhất, nhiều hơn bất cứ một vận động viên nào kể cả những người đang sống hoặc đã mất. Ký tên là công việc chính của anh ở nhà bên chiếc bàn quen thuộc của mình. Có một lần anh đã từ chối tặng chữ ký cho một cậu bé với lý do là không có thời gian. Sau lần đó, anh thề là sẽ không bao giờ để ai phải thất vọng nữa. Anh cũng nhận được rất nhiều thư của các fan hâm mộ.
Lễ giã từ sự nghiệp của các vận động viên tên tuổi để lại dấu ấn không phai mờ không những đối với bản thân họ mà còn với công chúng hâm mộ nữa. Công chúng luôn nhớ tới họ ngay cả khi xem những bộ phim thời sự tồi trong đó Babe Ruth với chiếc mũ cầm tay trong lễ trao giải đĩa vàng, Lou Gehrig với tiếng nói vang khắp sân vận động Yankee. Còn đối với Muhammad Ali, anh chưa hẳn đã giã từ sự nghiệp của mình, nhưng công hchúng đoán như vậy khi anh đã gom góp được một gia tài ước tính tới 3 tỷ Đô la và khi xem anh khai mạc Thế Vận Hội Atlanta 96. Trong bộ quần áo thể thao màu trắng nổi bật trên nền trời tối, anh tiến tới đĩa đuốc chưa châm, trong tay là ngọn lửa giương cao, cánh tay kia run rẩy do ảnh hưởng của bệnh Parkinson. Đây dường như là buổi lễ hiển linh và những người chứng kiến buổi lễ này giờ đây mới nhận thấy họ nhớ anh nhiều như thế nào và anh đã cống hiến cho nền thể thao thế giới mới nhiều làm sao.
Những thế hệ võ sĩ quyền anh sau sẽ nhớ mãi ba hiệp đấu giữa Ali và Frazier – những võ sĩ vĩ đại trong lịch sử làng quyền anh nhà nghề, giống như họ được đọc 3 hồi của một vở kịch vĩ đại. Họ sẽ nhớ mãi hình ảnh một Ali bất kham, một Ali chậm chạp nhất từng bước, một vận động viên lên án việc sử dụng chất kích thích và họ sẽ ghi nhớ rằng chính Ali đã mang đến vẻ đẹp và sự duyên dáng cho môn thể thao không khoan nhượng này. Và họ chắc phải ngạc nhiên khi biết rằng bằng tài năng và đức tính phi thường, anh đã trở thành một vận động viên được công chúng mến mộ nhất và một nhân vật tiếng tăm trên thế giới.
Phùng Thị Kim Dung-Du lịch- Tổng cục du lịch-Bộ VH-TT-DL-33(85)-1999

Muhammed Ali – Người phản đối Mỹ xâm lược Việt Nam, võ sĩ quyền anh tài năng của thời đại – Phần 1

Vừa qua, sau một thời gian nghiên cứu và lấy ý kiến quần chúng, tạp chí “Time” đã lựa chọn ra được 10 nhân vật nổi tiếng nhất của thế kỷ 20 trên tất cả các lĩnh vực, trong đó võ sĩ quyền anh Muhammed Ali cũng được chọn là một vận động viên được hâm mộ nhất thế giới. Sau đây chúng tôi xin giới thiệu cuộc đời và sự nghiệp của anh.
Vào đầu thập kỷ 60, môn đấm bốc chỉ phát triển rộng rãi trong giới tội phạm và có nguy cơ bị lãng quên cho tới một ngày Muahmmad Ali – Cassius Clay xuất hiện trên võ đài.
Cho dù giành được huy chương vàng tại thế vận hội Rome năm 1990, nhưng vào thời điểm đó các chuyên gia chưa để ý tới tài năng của anh. Đầu, đôi mắt to dường như luôn quan sát cục diện trận đấu. Thay vì thụi nhanh vào người đối phương – một động tác tự vệ các võ sĩ hay làm, anh thường nghiêng người về phía sau uốn cong người. Các chuyên gia khiếp sợ trước kiểu tự vệ này nhưng họ lại cho đấy là hành động dại dột. Họ cũng tỏ vẻ không đồng tình với những hành vi của anh như hay tự đề cao bản thân, coi mình là kẻ mạnh nah61t, hay giao du với những người theo đạo Hồi và chối bỏ nguồn gốc nô lệ của mình bằng cách đổi tên từ Cassius Clay thành Muhammad ali, tự cho mình là nhà thơ vì anh có thể sáng tác ngay cả trong lúc bận rộn – và những bài thơ này đã đưa anh lên hàng những người luyên thuyên số 1. Người ta còn coi anh là kẻ hay châm biếm “Nếu Ali nói một con muỗi có thể kéo được một chiếc gối, thì đừng hỏi anh ta là nó kéo như thế nào mà hãy bịt miệng anh ta lại”. Trong các cuộc họp báo, các phóng viên đều lặng thinh trước những câu hỏi của anh. Thái độ của họ thật là kỳ lạ. Ali lúc thì thô bạo đến hỗn xược, lúc thì lại ngọt ngào, lúc lại tỏ vẻ khờ khạo. Bạn gái của anh tiết lộ rằng lần đầu tiên cô hôn Ali, anh đã gần như ngất xỉu. Tiếng cười dường như chẳng bao giờ bật ra khỏi miệng ngay cả khi chủ đề của cuộc họp báo khá thú vị. Khi được hỏi về mối quan hệ của anh với những người theo đạo Hồi, anh bông đùa rằng anh sẽ cưới 4 vợ: một người sẽ chuyên đánh giầy cho anh, một người cho anh ăn nho, một người xoa bóp cho anh và một người sẽ là “đào tơ mơn mởn”. Khi còn bé, anh đã biết chơi khăm và trêu chọc người khác. Những trò đùa của anh đều khiến cha mẹ phải khiếp sợ như để một mảnh giấy trắng trên đầu tủ quần áo nhảy xổ vào người họ, hay buộc dây vào rèm cửa buồng ngủ và làm cho chiếc rèm chuyển động về phía bố mẹ trong khi họ đang ngủ.\
Công chúng cố gắng lắm mới chấp nhận anh. Trận đấu với Sonny Liston giành chức vô địch quyền anh hạng nặng ở Miami rất ít người đến xem. Thực ra, công chúng mến mộ Liston hơn cho dù người ta biết anh có dính líu tới một băng tội phạm nguy hiểm. Để đáp lại sự hâm mộ của công chúng, Liston quả quyết là sẽ giáng một đòn quyết định trúng cổ họng của Ali và tất nhiên sau đó Ali phải vào viện để sửa lại cổ họng của mình. Nhưng chính Liston lại là người gục ngã trên sàn đấu chứ không phải Ali.
Phùng Thị Kim Dung-Du lịch- Tổng cục du lịch-Bộ VH-TT-DL-33(85)-1999