Đảo Cò

Tối không vào đảo đó
E vỡ cả mạn thuyền
Sợ loại chấn trượt ngã
Ai dắt vầng trăng lên?
Đảo Cò đảo thần tiên
Trăng hiện lên lối cỏ
Tơ non từng ngọn gió
Trên cánh cò ăn đêm
Cò hương và cò trắng
Đêm gọi nhau thưa dần
Cò túng bán hết ruộng
Đường cùng đi kiếm ăn
Băn khoăn con cò lửa
Soi mãi không sáng trời
Chín bồ chữ vẫn đói
Văn tự dán đầy người
Tới hai bàn tay trắng
Giữa hồ đảo và trời
Tôi chỉ có văn tự
Nhưng không chữ không lời
Hồ Núi Cốc 1992
Lời bình của Trinh Đường
Có lắm chi phái trong họ hàng nhà cò: cò trắng, cò quắm, cò hương, cò ma, cò bợ, cò lửa… cả con cò trong ca dao, hình ảnh một bà mẹ tần tảo nuôi chồng, nuôi con…
Tuyên truyền cò túng bẩn phải bán ruộng cho vạc với giao hẹn: vạc ăn đêm, cò ăn ngày, văn tự dán đầy người.
Tôi có đến thăm những vườn cò U Minh, Ngọc Hiển. Chiều cò đi ăn bay về rợp trời như mây. Một cái thúng lót lá, lót rác đặt vào nửa chiều hôm trước sáng hôm sau mang về một thúng trứng tướng. Du khách đi nhặt chim non từng thuyền, đem bán chợ miệt trên để lo cái ăn đánh giặc. Ở đây, nơi nào có nước, nơi ấy đầy cá tôm cộng với việc chia vườn quản lý, nên các vườn chim, sân chim ngày một đông đặc.
Tôi cũng được Hội nhà văn Hà Nội đưa đi chơi Hồ Núi Cốc. Truyền thuyết đôi tình nhân và phong cảnh núi Văn (đã bị phá làm đá), núi Võ hấp dẫn du khách không kém đảo Cò. Điều kiện khách quan không như ở Nam Bộ nên cò ở đây không nhiều, chỉ đủ để nhìn cho vui mắc và yên lòng vì rừng không bị hay ít bị phá, nhưng với tác giả thì ít hay nhiều không mấy quan trọng đối với việc cấu tạo của bài thơ.
Toàn bài, tác giả mượn hoàn cảnh cò để nói về mình. Cò có đến chín bồ chữ vẫn đói vẫn túng bấn, phải bán ruộng cho vạc đi ăn đêm, còn mình ăn ban ngày, nhưng cuộc sống vẫn khó khăn nên phải lần mò đi ăn cả ban đêm, văn tự không nơi cất đành phải dán đầy người.
Thương thân cò khổ, giữa đảo thần tiên, càng thương tác giả cũng túng bấn, như cò viết văn tự phát mại cả chính mình nhưng lại là một văn tự không chữ, không lời.
Hay đây là “kinh không có chữ mới là chân kinh”? Hay nổi khổ không biết san sẻ, thổ lộ với ai đành phải im lặng nuốt vào lòng? Qua bài thơ này, du khách càng hiểu thêm đời sống vất vả nhưng cũng rất tình cảm của con người Việt Nam.
Hiền Mặc Chất – Tuần Du lịch – Số 39(91) 27/9 -4/10/1999

Công ty cổ phần khách sạn Tây Nguyên

Được Ủy ban Nhân dân tỉnh Daklak phê duyệt và ra quyết định chuyển khách sạn Tây Nguyên – một phần tài sản thuộc Công ty du lịch Daklak – thành “Công ty cổ phần khách sạn Tây Nguyên” ngày 21-11-1998 công ty đã tổ chức đại hội cổ đông để thông qua điều lệ, phương án kinh doanh, bầu Hội đồng quản trị và bầu Chủ tịch Hội đồng quản trị. Trong số 34 cổ đông ban đầu thì công ty cổ phần khách sạn Tây Nguyên có 9 cổ đông, chiếm gần 27% số cổ đông. Công ty có người mua cổ phiếu cao nhất là 50 triệu đồng, thấp nhất là 1,5 triệu đồng (mệnh giá cổ phiếu 100.000 đồng). Công ty cổ phần khách sạn Tây Nguyên có 41% vốn của cán bộ công nhân viên công ty du lịch, 52% vốn của Nhà nước và 7% vốn của các cổ đông khác. Đây là công ty cổ phần đầu tiên ở Daklak thực hiện Nghị định 44/NĐ-CP ngày 29/6/1998 của Chính phủ.
Năm 1999 là năm đầu tiên Công ty cổ phần khách sạn Tây Nguyên tổ chức thực hiện kế hoạch kinh doanh với loại hình doanh nghiệp mới. Vượt qua bỡ ngỡ ban đầu công ty đã đạt được kết quả khả quan trong quý I năm 1999: doanh thu 147.608.000 đồng tăng 17% so với quý I năm 1998. Thu nhập bình quân của người lao động quý I năm 1999 là 774.000đồng/người/tháng, tăng 22,5% so với quý I năm 1998. Lợi nhuận cổ tức 1,5%/tháng. Nộp thuế tăng 17% so với quý I năm 1998. Trong quý I năm 1999 Công ty đã đầu tư trên 40 triệu đồng mua sắm trang thiết bị phục vụ khách trong đó chủ yếu trang bị cho phòng ngủ, nhờ vậy mà công suất phòng ngủ của khách sạn trong quý I năm 1999 đạt 65,07% tăng gần 5% so với quý I năm 1998. Riêng tháng 3 năm 1999 đạt 80%, cao nhất trong số các khách sạn trên địa bàn tỉnh Daklak.
Đạt được kết quả trên trước hết là việc thực hiện mô hình cổ phần hóa là đúng hướng, đã thu hút vốn nhàn rỗi đầu tư cho kinh doanh, quyền lợi của người lao động gắn liền với Công ty và đồng vốn bỏ ra nên họ có trách nhiệm hơn. Mỗi người đều thực hiện nhiệm vụ được phân công một cách tự giác như làm cho chính mình. Họ tiết kiệm chi phí đến mức tối đa, tính toán kỹ khi mua sắm trang thiết bị. Vì vậy vốn không bị thất thoát, vốn được đầu tư có mục đích và có hiệu quả. Công tác tổ chức dần dần ổn định, khi chuyển sang cổ phần hóa Công ty tiếp nhận và bố trí việc làm cho 100% lao động công tác trước đây ở khách sạn. Các chế độ chính sách đối với người lao động như tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế v.v… được thực hiện kịp thời, đầy đủ. Từ đó người lao động gắn bó mật thiết hơn với đơn vị. Anh chị em luôn đầu tư suy nghĩ để tìm ra cách làm tốt nhất, hiệu quả nhất để thu hút khách đến với khách sạn và bán ra được nhiều hàng hóa.
Trong quý II năm 1999 Công ty cổ phần Khách sạn Tây Nguyên sẽ đầu tư một tỷ đồng xây dựng mới nhà hàng có sức chứa 250 khách và một số phòng ngủ phục vụ khách quốc tế. Đến nay phần thiết kế đã hoàn thành, chờ ý kiến của các ngành chức năng là thực hiện. Mặt khác công ty sẽ đầu tư 155 triệu đồng từ nguồn khấu hao tài sản năm 1998 và 1999 để nâng cấp phòng ngủ và các trang thiết bị khác nhằm phục vụ tốt hơn khách quốc tế cũng như khách trong nước đến nghỉ tại khách sạn, đồng thời Công ty sẽ mở rộng hoạt động kinh doanh thương mại dịch vụ cũng như kinh doanh du lịch nội địa.
Qua 3 tháng hoạt động theo mô hình mới, vướng mắc lớn nhất của Công ty cổ phần khách sạn Tây Nguyên hiện nay là sự không thống nhất về chính sách ưu đãi giữa các Luật làm hạn chế đến kết quả hoạt động của đơn vị cụ thể là: Theo các điều 14, 30 và 33 Luật đầu tư trong nước thì đơn vị được giảm 50% trong 3 năm về thuế doanh thu; miễn 4 năm đầu và giảm 50% trong 5 năm tiếp theo về thuế lợi tức, nhưng Luật thuế giá trị gia tăng chẳng những không được giảm mà còn phải thực hiện thuế suất 10%, còn thuế thu nhập doanh nghiệp chỉ được giảm 50% trong 2 năm đầu. Đề nghị các ngành chức năng ở tỉnh Daklak và Trung ương xem xét điều chỉnh một số nội dung của 2 Luật thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp cho phù hợp với Luật đầu tư trong nước tạo điều kiện cho Công ty cổ phần khách sạn Tây Nguyên hoạt động tốt hơn, đồng thời tạo điều kiện cho các doanh nghiệp khác yên tâm hơn khi thực hiện cổ phần hóa.
Nguyễn Thanh Linh – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 29(81)1999

Nhân mở tuyến đường bay Hồng Kông – Đà Nẵng

Lâu nay, chuyện đưa khách quốc tế đi, đón khách quốc tế đến ở các sân bay quốc tế Nội Bài (Hà Nội) và sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất (Thành phố Hồ Chí Minh) là một chuyện bình thường. Song với sân bay quốc tế Đà Nẵng, chuyện đón và đưa khách du lịch từ Hồng Kông đến Đà Nẵng và từ Đà Nẵng đi Hồng Kông trong đêm 17.6.1999 của hãng hàng không Phi Long (Dragon Air), quả là một sự kiện đặc biệt.
Để có được chuyến bay trực tiếp Hồng Kông – Đà Nẵng này, các đơn vị như khách sạn Furama, chi nhánh Công ty Đông Á phải vất vả cả năm trời, tốn hàng trăm triệu đồng. Riêng lãnh đạo thành phố, ngành du lịch Đà Nẵng cùng với các ngành liên quan cũng đã tổ chức nhiều cuộc họp, bàn bạc tìm ra hướng đi cho ngành du lịch trong việc mở đường bay trực tiếp này được thực hiện. Chuyện các đồng chí lãnh đạo thành phố, các quan chức ngành du lịch, đông đảo các nhà báo (có người từ Thành phố Hồ Chí Minh ra) sân bay đón đoàn khách đầu tiên đến sân bay Đà Nẵng trực tiếp từ nước ngoài mà k cần quá cảnh ở Hà Nội hay Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy đây là một sự kiện hết sức có ý nghĩa với ngành du lịch Đà Nẵng. Một người bạn trong đoàn đón khách du lịch tâm sự: “Kể cũng lạ, lần đầu tiên đón khách quốc tế đi trực tiếp đến Đà Nẵng sao mà hồi hộp”. Đó cũng chính là tâm trạng chung của nhiều người có mặt tại sân bay hôm ấy.
Đúng 21 giờ, chiếc Air Bus 321 của hãng hàng không Dragon Air đưa 192 khách xuống sân bay và chỉ sau 1 giờ đồng hồ, đưa 120 khách du lịch từ Đà Nẵng đi Hồng Kông.
Bốn ngày lưu lại Đà Nẵng và đi tham quan phố cổ Hội An, Thánh Địa Mỹ Sơn, Cố đô Huế đã để lại nhiều ấn tượng tốt đẹp cho khách du lịch Anh, Mỹ, Pháp, Hồng Kông. Có vị khách tâm sự: “ Tôi không ngờ ở miền Trung Việt Nam lại có một khách sạn như Furama đẹp không thua kém những khách sạn có tiếng thế giới. Đặc biệt bãi tắm Bắc Mỹ An thật đẹp và trong lành. Còn các du khách của Đà Nẵng đi du lịch Hồng Kông thì thật là thoải mái, dễ chịu. Họ không phải chạy đôn chạy đáo để làm visa thị thực xuất cảnh ở hai đầu đất nước cách xa hàng trăm cây số như trước đây. Buổi chiều ăn cơm chia tay với gia đình, xách vali ra sân bay, 5 phút làm thủ tục, sau hai giờ đã đến Hồng Kông. Những ngôi nhà chọc trời, những đường phố suốt đêm ngày rực rỡ ánh đèn, nhộn nhịp cảnh mua bán, những hàng hóa, đồ lưu niệm rẻ đến bất ngờ….là những điều thích thú của chuyến đi đối với du khách Việt Nam. Song dư âm dễ chịu trong chuyến đi còn ở chỗ những thủ tục nhanh chóng, dễ dàng của sân bay Quốc tế Đà Nẵng đối với du khách.
Với góc độ là người theo dõi sự kiện ngày 17/6 của du lịch Đà Nẵng, tôi mong rằng đây là sự khởi đầu tốt đẹp của chương trình hành động Du lịch của Đà Nẵng và các tỉnh miền Trung; Tổng cục du lịch và ngành Hàng không Việt Nam nên sớm có quyết định một phương án tổ chức những chuyến bay đưa khách du lịch vào Đà Nẵng vào có thể đi hai đầu đất nước và ngược lại. Nếu được như vậy khách du lịch quốc tế sẽ có thời gian lưu lại lâu hơn, thuận tiện hơn trong việc tham quan tìm hiểu các giá trị văn hóa, các danh lam thắng cảnh của đất nước ta, không bị ràng buộc “vào cửa nào, ra cửa ấy”.
Sự thành công của chuyến bay là cơ bản, kết quả ấy không chỉ là sự cố gắng, kiên trì của Ban Giám đốc khu nghỉ mát Furama, chi nhánh công ty Đông Á mà còn ở sự chỉ đạo sâu sát của lãnh đạo thành phố Đà Nẵng, Sở du lịch Đà Nẵng và sự phối hợp nhịp nhàng của các cơ quan hữu quan như Công an, Hải quan, cán bộ Sân bay Quốc tế Đà Nẵng.
Tuy nhiên, một số quan chức địa phương và nước ngoài trực tiếp tham gia tổ chức cho đường bay này đều cho rằng giá như việc quản lý, điều hành ở Sân bay Đà Nẵng có sự tập trung thống nhất để làm thủ tục cho máy bay vào Việt Nam nhanh hơn (vì có những cuộc hẹn làm việc phải mất hai tuần mới có trả lời), tập trung ở một đầu mối (chứ không phải 5 đầu mối như hiện nay) thì việc tổ chức các chuyến bay trực tiếp từ nước ngoài đến Đà Nẵng sẽ thuận lợi hơn.
Dẫu sao, việc tổ chức được đường bay trực tiếp đến Đà Nẵng vẫn được khẳng định là một thành công đáng kể mở ra một tương lai đầy hứa hẹn cho du lịch Đà Nẵng phát triển. Điều đó báo hiệu một sự khởi đầu tốt đẹp cho du lịch Đà Nẵng, thiết thực khẳng định Đà Nẵng – Việt Nam là điểm hẹn của thiên niên kỷ mới.
Văn Phong – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 28(80)1999

Chạm tới nỗi đau của đá

Trong khu di tích nhà tù Hỏa Lò, trên sân hành quyết rộng chừng 200 mét vuông với cột máy chém. Đặc trưng thời Trung cổ, trên bức tường phía tây ngăn cách với phần đất đã liên doanh để xây Tháp Hà Nội, hai nhà điêu khắc Khúc Quốc n và Lê Liên đang khởi công xây dựng một bức tượng đài hoành tráng để ghi lại những kỳ tích của những người yêu nước và cách mạng Việt Nam trong cuộc đấu tranh suốt một thế kỷ giành độc lập, tự do cho tổ quốc.
Chính vì ý nghĩa quan trọng đó mà ngay từ khi di tích lịch sử nhà tù Hỏa Lò được nhà nước công nhận và xếp hạng, Thành ủy và Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội đã nghĩ tới việc xây dựng một tượng đài có tầm cỡ trên sân hành quyết của nhà tù khét tiếng này. Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội đã chỉ thị cho Sở Văn hóa Hà Nội tổ chức cuộc thi Mẫu tượng đài Hỏa Lò. Hơn một năm sau đã có trên 20 phác thảo của năm đơn vị gửi tới tham dự thi đó là: Bộ xây dựng, Hội Kiến trúc sư Việt Nam, Trường Đại học Mỹ thuật Công nghiệp và Công ty Mỹ thuật Nội ngoại thất AIE Co., Ltd. Cuối năm 1997, phương án của hai nhà điêu khắc Khúc Quốc n và Lê Liên (Công ty Mỹ thuật Nội ngoại thất AIE Co., Ltd) được Hội đồng nghệ thuật xét chọn và được Ủy ban nhân dân thành phố ra quyết định thực hiện (trên ý tưởng căn bản). Sau đó là hai năm trời, hai nhà điêu khắc Khúc Quốc n và Lê Liên lao vào sáng tác để hoàn chỉnh đến từng chi tiết phác thảo Tượng đài.
Ngày 3-2-1999, công trình đài tưởng niệm các chiến sĩ yêu nước và cách mạng tại nhà tù Hỏa Lò được chính thức khởi công xây dựng. Đây là công trình mỹ thuật tượng đài ngoài trời có chất lượng sáng tạo độc đáo nhất từ trước tới nay ở Việt Nam. Bức phù điêu khối âm hoành tráng, mang đậm tính chất sử thi, có giá trị lịch sử và nghệ thuật đặc biệt. Trên diện tích 90 mét vuông đá Granit đen khai thác từ Bảo Lộc – Lâm Đồng, các nhà điêu khắc sẽ đục, chạm để thể hiện hình ảnh mười hai nhân vật tù nhân với các tư thế khác nhau, diễn tả các tâm trạng khác nhau của nhiều thế hệ những người yêu nước và cách mạng Việt Nam từ thời Văn thân đến khi có Đảng lãnh đạo. Với tư tưởng chủ đề chung là “kiên cường – bất khuất – vinh quang đời đời”, những nhân vật trong bức phù điêu thực sự làm sống dậy trong long người cả chiều dài lịch sử quật cường của dân tộc, ta nghe vang trên bức tường đá đen câm lặng tiếng xích sắt va đập loảng xoảng, những tiếng thét căm hờn, uất hận và dũng mãnh, những lời nhắn nhủ lặng lẽ nhưng quyết liệt của những người chiến sỹ trước khi ra pháp trường: “Chào các đồng chí ở lại. Tôi đi!” Những nếp gấp mạnh mẽ trên nền phù điêu cũng như những hình nhân vật được đục lõm (âm bản) hòa quyện vào nhau tạo nên Thời gian đồng hiện và Không gian đa chiều vừa khiến cho Tượng đài mang dáng vẻ hiện đại của khối hình lập thể, lại vừa gợi không khí huyền thoại, cổ xưa như những họa tiết trên mặt trống đồng Đông Sơn, Ngọc Lũ.
Có thể nói hai nhà điêu khắc Khúc Quốc n và Lê Liên đã thực sự sáng tạo trong ý tưởng tổ chức không gian khép mở khiến bức phù điêu hoành tráng ấy chợt như có như không, một phong cách thể hiện mới mẻ ở Việt Nam chưa ai làm, chưa đâu có. Các nhà điêu khắc sử dụng khối âm (vốn không phải là khối thực) ở đây một cách thật đắc địa, hiện thực như được đẩy xa hơn, người xem như được ru vào quá khứ. Cũng nhờ vào những khối không thực đó mà ánh sáng ở các thời điểm khác nhau trong ngày tác động lên bề mặt phù điêu làm cho những hình tượng nhân vật tạo nên một thực thể phức điệu cực kỳ phong phú, gợi trí tưởng tượng rộng rãi cho người xem. Cũng chính cái khối âm không thực ấy đã mở một đường biên hết sức rộng rãi cho sức sáng tạo của người nghệ sĩ. Từ yêu cầu hết sức hiện thực, nhưng các nghệ sĩ điêu khắc ở đây đã làm một việc ngược lại: sáng tạo một tác phẩm phi hiện thực để tạo hiệu quả thực nhất.
Một điểm thành công nổi bật đáng nói nữa đó là ý tưởng tổ chức không gian của các tác giả rất là phù hợp với mặt bằng và không gian hiện có của sân hành quyết của Nhà tù Hòa Lò (phần còn lại). Trên mặt bằng 200 mét vuông bị quay chặt bởi bốn phía tường ngăn bức phù điêu như lặn sâu vào trong tường, không một chút khoa trương, không một lời nói lớn, mà tạo được ấn tượng vừa đột ngột, vừa mềm mại, có sức lay động giản dị câm lặng, có sức lan tỏa của những hồi âm vang vọng.
Bức phù điêu nghiêng nghiêng như kéo bức tường nhà tù sắp sập xuống vĩnh viễn gợi cho người xem cảm xúc trực tiếp vào tư tưởng chủ đề tác phẩm, đồng thời còn gây được ấn tượng về sự vững bền bất tử.
Bạn hãy thử đặt tay lên vầng trán, những bộ ngực trần lõm sâu trong đá đen kia, bạn sẽ như tôi, cảm thấy có tiếng trái tim đang dồn dập. Trái tim của những con người bất tử ấy sẽ còn mãi với thời gian, đồng hành cùng lịch sử.
Để kết thúc bài viết nhỏ này, tôi xin được mượn lời nhà phê bình nghệ thuật Thái Bá Vân nói với Khúc Quốc n và Lê Liên trước khi anh vĩnh biệt chúng ta:
Các bạn của tôi! Các bạn đã chạm tới nỗi đau của đá!
Trịnh Thanh Sơn – Tuần Du lịch – Số 38(90) 20 -27/9/1999

Muhammed Ali – Người phản đối Mỹ xâm lược Việt Nam, võ sĩ quyền anh tài năng của thời đại – Phần 2

Ba năm sau, công chúng bắt đầu chất vấn việc Ali không gia nhập quân đội trong chiến tranh Việt Nam. Anh biện minh “Tôi chẳng có thù hằn gì với những người Việt Cộng cả” – Đây là một trong nhưng lời tuyên bố đanh thép phản đối Mỹ xâm lược Việt Nam vào thời kỳ đó. Chính phủ kết tội anh trốn quân dịch và Hiệp Hội Quyền Anh Mỹ thu hồi giấy phép của anh. Anh ăn không ngồi rồi trong 3 năm rưỡi. Năm 1971, Tòa án tối cao tuyên bố chính phủ hành động như vậy là không thỏa đáng. Nhưng Ali không cho là Hiệp hội Quyền Anh chơi xấu anh, vì họ là đã làm những gì họ cho là đúng. Đối với anh, anh đã hoàn toàn lấy lại được tiếng tăm của mình trên võ đài: Hạ knock – out George Foreman ở hiệp thứ 8 trong trận đấu ở Zaire. Trong trận đấu này anh được mệnh danh là “Kẻ động rừng”.
Có lẽ anh là vận động viên ký tên nhiều nhất, nhiều hơn bất cứ một vận động viên nào kể cả những người đang sống hoặc đã mất. Ký tên là công việc chính của anh ở nhà bên chiếc bàn quen thuộc của mình. Có một lần anh đã từ chối tặng chữ ký cho một cậu bé với lý do là không có thời gian. Sau lần đó, anh thề là sẽ không bao giờ để ai phải thất vọng nữa. Anh cũng nhận được rất nhiều thư của các fan hâm mộ.
Lễ giã từ sự nghiệp của các vận động viên tên tuổi để lại dấu ấn không phai mờ không những đối với bản thân họ mà còn với công chúng hâm mộ nữa. Công chúng luôn nhớ tới họ ngay cả khi xem những bộ phim thời sự tồi trong đó Babe Ruth với chiếc mũ cầm tay trong lễ trao giải đĩa vàng, Lou Gehrig với tiếng nói vang khắp sân vận động Yankee. Còn đối với Muhammad Ali, anh chưa hẳn đã giã từ sự nghiệp của mình, nhưng công hchúng đoán như vậy khi anh đã gom góp được một gia tài ước tính tới 3 tỷ Đô la và khi xem anh khai mạc Thế Vận Hội Atlanta 96. Trong bộ quần áo thể thao màu trắng nổi bật trên nền trời tối, anh tiến tới đĩa đuốc chưa châm, trong tay là ngọn lửa giương cao, cánh tay kia run rẩy do ảnh hưởng của bệnh Parkinson. Đây dường như là buổi lễ hiển linh và những người chứng kiến buổi lễ này giờ đây mới nhận thấy họ nhớ anh nhiều như thế nào và anh đã cống hiến cho nền thể thao thế giới mới nhiều làm sao.
Những thế hệ võ sĩ quyền anh sau sẽ nhớ mãi ba hiệp đấu giữa Ali và Frazier – những võ sĩ vĩ đại trong lịch sử làng quyền anh nhà nghề, giống như họ được đọc 3 hồi của một vở kịch vĩ đại. Họ sẽ nhớ mãi hình ảnh một Ali bất kham, một Ali chậm chạp nhất từng bước, một vận động viên lên án việc sử dụng chất kích thích và họ sẽ ghi nhớ rằng chính Ali đã mang đến vẻ đẹp và sự duyên dáng cho môn thể thao không khoan nhượng này. Và họ chắc phải ngạc nhiên khi biết rằng bằng tài năng và đức tính phi thường, anh đã trở thành một vận động viên được công chúng mến mộ nhất và một nhân vật tiếng tăm trên thế giới.
Phùng Thị Kim Dung-Du lịch- Tổng cục du lịch-Bộ VH-TT-DL-33(85)-1999

Muhammed Ali – Người phản đối Mỹ xâm lược Việt Nam, võ sĩ quyền anh tài năng của thời đại – Phần 1

Vừa qua, sau một thời gian nghiên cứu và lấy ý kiến quần chúng, tạp chí “Time” đã lựa chọn ra được 10 nhân vật nổi tiếng nhất của thế kỷ 20 trên tất cả các lĩnh vực, trong đó võ sĩ quyền anh Muhammed Ali cũng được chọn là một vận động viên được hâm mộ nhất thế giới. Sau đây chúng tôi xin giới thiệu cuộc đời và sự nghiệp của anh.
Vào đầu thập kỷ 60, môn đấm bốc chỉ phát triển rộng rãi trong giới tội phạm và có nguy cơ bị lãng quên cho tới một ngày Muahmmad Ali – Cassius Clay xuất hiện trên võ đài.
Cho dù giành được huy chương vàng tại thế vận hội Rome năm 1990, nhưng vào thời điểm đó các chuyên gia chưa để ý tới tài năng của anh. Đầu, đôi mắt to dường như luôn quan sát cục diện trận đấu. Thay vì thụi nhanh vào người đối phương – một động tác tự vệ các võ sĩ hay làm, anh thường nghiêng người về phía sau uốn cong người. Các chuyên gia khiếp sợ trước kiểu tự vệ này nhưng họ lại cho đấy là hành động dại dột. Họ cũng tỏ vẻ không đồng tình với những hành vi của anh như hay tự đề cao bản thân, coi mình là kẻ mạnh nah61t, hay giao du với những người theo đạo Hồi và chối bỏ nguồn gốc nô lệ của mình bằng cách đổi tên từ Cassius Clay thành Muhammad ali, tự cho mình là nhà thơ vì anh có thể sáng tác ngay cả trong lúc bận rộn – và những bài thơ này đã đưa anh lên hàng những người luyên thuyên số 1. Người ta còn coi anh là kẻ hay châm biếm “Nếu Ali nói một con muỗi có thể kéo được một chiếc gối, thì đừng hỏi anh ta là nó kéo như thế nào mà hãy bịt miệng anh ta lại”. Trong các cuộc họp báo, các phóng viên đều lặng thinh trước những câu hỏi của anh. Thái độ của họ thật là kỳ lạ. Ali lúc thì thô bạo đến hỗn xược, lúc thì lại ngọt ngào, lúc lại tỏ vẻ khờ khạo. Bạn gái của anh tiết lộ rằng lần đầu tiên cô hôn Ali, anh đã gần như ngất xỉu. Tiếng cười dường như chẳng bao giờ bật ra khỏi miệng ngay cả khi chủ đề của cuộc họp báo khá thú vị. Khi được hỏi về mối quan hệ của anh với những người theo đạo Hồi, anh bông đùa rằng anh sẽ cưới 4 vợ: một người sẽ chuyên đánh giầy cho anh, một người cho anh ăn nho, một người xoa bóp cho anh và một người sẽ là “đào tơ mơn mởn”. Khi còn bé, anh đã biết chơi khăm và trêu chọc người khác. Những trò đùa của anh đều khiến cha mẹ phải khiếp sợ như để một mảnh giấy trắng trên đầu tủ quần áo nhảy xổ vào người họ, hay buộc dây vào rèm cửa buồng ngủ và làm cho chiếc rèm chuyển động về phía bố mẹ trong khi họ đang ngủ.\
Công chúng cố gắng lắm mới chấp nhận anh. Trận đấu với Sonny Liston giành chức vô địch quyền anh hạng nặng ở Miami rất ít người đến xem. Thực ra, công chúng mến mộ Liston hơn cho dù người ta biết anh có dính líu tới một băng tội phạm nguy hiểm. Để đáp lại sự hâm mộ của công chúng, Liston quả quyết là sẽ giáng một đòn quyết định trúng cổ họng của Ali và tất nhiên sau đó Ali phải vào viện để sửa lại cổ họng của mình. Nhưng chính Liston lại là người gục ngã trên sàn đấu chứ không phải Ali.
Phùng Thị Kim Dung-Du lịch- Tổng cục du lịch-Bộ VH-TT-DL-33(85)-1999

Váy hình chóp loe khổng lồ

Một loại váy mới, trên in các mảng màu sặc sỡ đan xen vừa được nhà tạo mốt Gattinoni cho ra đời. Điều đặc biệt của chiếc váy là con đường kính hình phễu cực kỳ lớn đã rủ xuống bao trùm khoảng đất rộng lớn dưới chân mỗi khi người mẫu đi lại.
Thời trang “cửa Thái Hoà Cố Cung”
Một loại váy áo đặc biệt (xem hình) vừa được nhà tạo mốt Trung Quốc có tên Hồ Nhiêu Đan cho ra đời với tên gọi: “Thời trang cửa Thái Hoà Cố Cung” để hưởng ứng đợt quảng cáo cho “Du lịch Tử Cấm Thành” Bắc kinh vừa qua.
Bộ mốt váy áo vừa tân kỳ nhưng vẫn mang được nét cổ điển phương Đông độc đáo.
Trong hình là người mẫu đang trình diễn bộ váy mới tại cuộc triển lãm thời trang ở Tôkyô Nhật Bản.
Leo núi – một loại hình du lịch hấp dẫn
Đối với khách du lịch ngoài những địa điểm thơ mộng huyền ảo như những dòng sông, những khu biển lộng gió, những cánh rừng bạt ngàn cổ thụ hay một chút tâm linh trở về chốn phật đài, giờ đây họ lại muốn tìm cho mình một cảm giác mạnh, muốn chinh phục những đỉnh núi cao chót vót để khám phá ra những điều huyền bí mà thiên nhiên đã tạo dựng. Trong ảnh là một khách du lịch đang muốn thử sức mình trên ngọn núi cao ở Thái Lan.
Đảng bộ cơ quan tổng cục du lịch triển khai nghị quyết TW 7 (Khoá VIII)
Sáng 15-9-1999, Đảng bộ cơ quan Tổng cục Du lịch đã tổ chức họp quán triệt nghị quyết TW 7, (khoá VIII) cho toàn thể cán bộ, đảng viên các chi bộ trực thuộc Đảng bộ.
Thay mặt Ban cán sự Đảng Tổng cục, đồng chí Võ Thị Thắng, Uỷ viên trung ương Đảng, Tổng cục trưởng tổng cục Du lịch đã truyền đạt những nội dung cơ bản của Nghị quyết, trong đó chủ yếu tập trung vào công tác tổ chức bộ máy và cải cách tiền lương, đồng thời chỉ ra một số nhiệm vụ trọng tâm cho Đảng bộ triển khai thực hiện trong thời gian tới.
Ngày 15 – 9 tại Hà Nội, Đảng bộ các khối cơ quan Thành uỷ và Du lịch đã mở lớp bồi dưỡng lý luận chính trị cho hơn 100 đồng chí là đảng viên mới. Trong thời gian học các đảng viên được học tập các bài về thế giới quan Mácxit, học thuyết giá trị thặng dư, xây dựng Nhà nước do dân, vì dân, Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá đất nước, chủ nghĩa yêu nước, đối ngoại – an ninh – quốc phòng, chính sách xã hội, xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tư tưởng Hồ Chí Minh, chức năng, nhiệm vụ, tổ chức cơ sở đảng…
T.T – Tuần Du lịch – Số 38(90) 20 -27/9/1999

Gió trong phố

Những dải cọ xanh trồng dọc phố
Đi về xe cộ vút đưa thoi
Có ai biết được cây vươn ngọn
Ngóng một trung du phía núi đồi
(Rút từ tập Phường gió nổi)
Không biết nhà thờ đã được lên những tầng cao của khách sạn Daewoo để ngắm những hàng cọ dưới sân vườn và những hàng cọ dọc đường Liễu Giai chưa, nhưng tôi đoán chắc ông đã không dưới chục lần đi tha thẩn dọc đường Liễu Giai – Nguyễn Chí Thanh, con đường với những hàng cây, bồn hoa đẹp nhất của Hà Nội thời mở cửa. Và tất nhiên ông đi tha thẩn chỉ cốt để ngắm cọ, thả hồn mình vào những tán cọ, để nhớ về một quá vãng, một vùng quê trung du máu thịt của ông, nơi đã làm nên một bản sắc thơ Ngô Văn Phú.
Những dải cọ xanh trồng dọc phố
Đi về xe cộ vút đưa thoi
Hai câu thơ trên có vẻ như một nhận xét, một thông tin bình thường. Nhưng tinh ý, sẽ thấy một sự phát hiện. Ấy là sự liên tưởng, so sánh một cách tinh tế giữa cái tĩnh và cái động, giữa chiều thẳng đứng và phương nằm ngang. Cây cọ đứng trầm lặng mà người, xe thì vun vút, hối hả một cách vô tình. Cây cọ vươn lên trời còn xe cộ thì chuyển động theo hai chiều con đường. Nhưng nếu chỉ vậy thôi thì có điều gì phải nói. Ngắm cây, nhìn xe cộ, ấy là chuyện thường tình. Chỉ riêng nhà thơ, người con của trung du rừng cọ đồi chè mới phát hiện ra cái điều này:
Có ai biết được cây vươn ngọn
Ngóng một trung du phía núi đồi
Cây ngóng, hay nhà thơ ngóng trung du? Ôi, những cây cọ đã mang về Hà Nội cả một sắc màu trung du, một vùng thiên nhiên, một vùng văn hóa khiến bất cứ ai từng sinh ra và lớn lên ở đó, giờ gặp lại cũng thấy nao lòng, thấy bồi hồi như chính mình đang được sống cùng miền quê thân thuộc.
Thì ra cây cũng mang cả hồn người, tình người. Chỉ một dải cọ xanh trồng dọc phố thôi cũng nói với chúng ta, nói hộ chúng ta biết bao nhớ nhung, kỷ niệm vui buồn và cả những khát vọng, những tâm tư thầm kín khó diễn tả bằng lời
Hoàng Dạ Vũ – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 28(80)1999

Xe khách liên tỉnh gặp gì ghi nấy – Phần 2

Nhưng có điều lượng thuốc ít quá nên hắn xin được làm một phép thử. Nếu ai có bệnh thực sự thì nộp cho hắn 30.000đ và hứa sẽ trả lại ngay sau khi đã biết chính xác ai là người có bệnh. Nhiều hành khách đã vội rút tiền đưa cho hắn với hy vọng sẽ có được thuốc quý mà không phải mất đồng nào. Khi đã trao xong hơn chục gói thuốc và cầm trong tay mấy trăm ngàn thì hắn vội nhảy tót xuống xe bỏ lại đằng sau lời hứa về “phép thử” ban nãy trước sự dửng dưng của nhà xe và sự sững sờ của hành khách. Lúc này những hành khách đang có trong tay “thuốc quý” mới vội giở xem thì ôi thôi toàn là những thứ rễ cây vớ vẩn, nếu mua ngoài chợ chỉ vài ngàn có cả đống. Than ôi! Lòng tham đôi khi đã biết con người ta thành ngớ ngẩn. Đến lúc này xe mới bắt đầu lăn bánh. Tôi liến nhìn đồng hồ đã 10h30’.
Những chuyến xe lòng vòng và nỗi khổ của “thượng đế”
Gần đây báo chí đã liên tục phản ánh tình trạng nhiều xe chở khách ở bến Giáp Bát không đỗ ở trong bến mà đỗ ngay dưới lòng đường Giải Phóng để đón khách. Tuy nhiên cho đến nay tình trạng này không những không giảm mà còn có chiều hướng gia tăng. Điều này đã làm cho một số hành khách ngại vào bến mà đứng ngay ở dọc đường để đón xe, tạo ra cảnh lộn xộn và mất an toàn cho xe cộ đi lại. Những xe bắt khách theo kiểu này chủ yếu là xe mang biển 36, 37 chạy tuyến Hà Nội – Thanh Hóa, Hà Nội – Vinh… Các tay lơ thì cứ đứng thìa lìa ở cửa, miệng gào lên mời gọi. Hễ thấy một hành khách nào có ý định đi xe là nhảy phốc xuống bốc vội cả người và hành lý lên xe. Nhưng khốn khổ cho những “thượng đế” bắt xe kiểu này là được các ông tài đưa xuống ngã ba Văn Điển rồi lại vòng lên ngã tư Vọng. Kiểu lòng vòng này chỉ được chấm dứa khi trên xe đã chật kín người.
Chưa hết, trên đường đi hành khách vẫn liên tục bị tra tấn bởi nạn đỏ đen, trộm cắp, móc túi hoặc nạn “nêm người như nêm cối” của nhà xe, nạn bán khách giữa đường và tăng giá xe một cách tùy tiện… cứ nhìn những chuyến xe hành khách phải đứng ra tận cửa lên xuống, một tay bám vào nóc xe, một chân dẫm lên sàn xe còn một tay và một chân kia cứ lủng lẳng ngoài không khí thì đủ biết các ông tài xế đã coi thường tính mạng của hành khách như thế nào. Còn bên trong, đó là cái không khí ngột ngạt, mùi xăng xe xộc lên quyện với khói thuốc lá đang phả ra từ miệng của những người đàn ông vô ý thức, khiến cho nhiều hành khách phụ nữ và trẻ em nôn thốc nôn tháo. Thiết nghĩ tại các nơi công cộng hiện nay đều có biển đề “không hút thuốc lá” thì tại sao trên các loại phương tiện chở khách lại không có dòng chữ cần thiết này. Được như vậy thì hạnh phúc biết bao cho phụ nữ và trẻ em khi đi tàu đi xe.
Những điều kể trên chỉ là một phần rất nhỏ so với thực trạng bê bối của hoạt động xe khách liên tỉnh hiện nay. Làm gì để cho ô tô và các loại phương tiện đi lại khác thực sự đem lại hạnh phúc cho hành khách trong mỗi chuyến đi ? Đó là câu hỏi lớn mà dư luận xã hội đòi hỏi các ngành có liên quan phải trả lời.
Phóng sự của Trần Duy-Tuần Du lịch- Tổng cục Du lịch-Bộ VH-TT-DL-33(85)-1999

Xe khách liên tỉnh gặp gì ghi nấy – Phần 1

Trong những năm gần đây cùng với sự cạnh tranh quyết liệt của các loại hình phương tiện giao thông dịch vụ xe khách liên tỉnh đã có rất nhiều cố gắng trong việc đáp ứng nhu cầu đi lại của nhân dân. Có thể nói chưa có bao giờ việc đi lại của hành khách lại thuận tiện như thời điểm hiện nay. Tuy nhiên những phiền toái mà các “thượng đế” gặp phải trong mỗi chuyến đi chưa phải là đã hết…
8 giờ 30 phút sáng ngày 6/8/1999 chúng tôi có mặt tại bến xe phía Nam – Hà Nội. Cảm giác đầu tiên là mùi rác rưởi, xú uế quyện với mùi xăng xe, bụi băm xộc lên mũi khiến tôi phải đưa tay bịt miệng và ậm ọe liên tục. Đang khốn khổ vì cái mùi khó tả ấy thì đội quân xe ôm, lơ xe, cò xe ập đến. Họ vây riết lấy chúng tôi mà mời chào, năn nỉ, khiến tôi và anh bạn cùng đi cứ phải luồn bên nọ, lách bên kia để tìm lối thoát. Nhưng cuối cùng vẫn không thể thoát ra khỏi cái “trận đồ bát quái” ấy thì anh bạn tôi đã phải nói như xin: “Khổ lắm! Tôi lạy các ông! Tôi đã bảo là không đi cơ mà!”. Đến lúc ấy họ mới dần dần “buông tha”.
Vì tin lời anh lơ xe là đến 9 giờ xe sẽ chạy nên chúng tôi đã chọn chiếc xe chạy tuyến Hà Nội – Hải Phòng (Hải Hậu) để bước lên với hy vọng rằng chỉ độ 3 tiếng đồng hồ sau sẽ có mặt ở nhà. Vừa bước vào xe đã thấy các hàng ghế đều có người ngồi kín. Nhưng nhìn kỹ ra thì có rất nhiều người bán hàng rong đang… giữ chỗ. Họ cố nài ép hành khách mua hàng, nếu không nhất định không trả chỗ. Một cô sinh viên đã bật khóc nức nở vì bị một ả bán hàng rong ép phải mua mấy phong kẹo cao su. May mà lúc đó có một anh bộ đội thấy cảnh “gai mắt” đã nói thẳng vào mặt ả. Biết là gặp phải “hảo hán” nên ả vội chuồn ngay và cô sinh viên nọ mới có chỗ ngồi. Lúc này đồng hồ đã chỉ 9h15’ mà vẫn chẳng thấy bóng dáng ông tài đâu, chỉ thấy phía cửa xe anh lơ vẫn tiếp tục chào mời khách, lời hẹn 9h xe chạy đã chuyển thành 9h30.
Trò lừa của những “xuân tóc đỏ”
Hành khách trên xe đang sốt ruột vì quá giờ mà xe vẫn chưa chạy thì đột nhiên có một gã đeo kính râm, để ria con kiến, đầu chải mượt đến mức ruồi đậu vào cũng trượt, nhảy lên xe. Miệng hắn liến thoắng kính chúc bà con “thượng lộ bình an” và tự giới thiệu là nhân viên tiếp thị của cửa hàng thuốc số 20 Trần Hưng Đạo – Hà Nội. Ban đầu hắn tự nguyện kính biếu hành khách mỗi người mấy gói thuốc chống đau răng, trị các bệnh ngứa ghẻ ngoài da mà theo như lời của hắn thì ai có bệnh chỉ cần bội vài lần là khỏi. Hắn “kiên quyết” không bán mà chỉ cho. Một số hành khách không thích sự ban phát đó đã rút tiền ra trả nhưng hắn vẫn từ chối không nhận. Tiếp theo hắn “trịnh trọng” giới thiệu một nhân viên khác sẽ lên kính biếu bà con một loại thuốc còn quý hơn nhiều, có thể chữa bách bệnh. Xong việc hắn vội chuồn mất, còn nhanh hơn cả lúc xuất hiện. Một giọng nói miền Nam nửa đực nửa cái lại cất lên liến thoắng và vẫn không quên “giai điệu” gửi tới hành khách những lời chúc tốt đẹp. Theo lời tên này thì loại thuốc mà hắn chuẩn bị kính biếu bà con có thể chữa tất cả các bệnh: đau lưng, thấp khớp, cơ thể nhức mỏi…
Phóng sự của Trần Duy-Tuần Du lịch- Tổng cục Du lịch-Bộ VH-TT-DL-33(85)-1999