Định hướng du lịch hàng không

Đầu thế kỷ 21, theo tổ chức Du lịch thế giới (WTO) dự báo, tới năm 2020 số du khách đến Châu á, sẽ chiếm 1/4 tổng số lượt du khách trên toàn cầu. Tới năm 2020, châu Á sẽ là khu vực phát triển nhất thế giới và sẽ trở thành điểm hẹn chính của du lịch thế giới trong thế kỷ 21.
Mặt khác, vì kinh tế phục hồi và phát triển nên trong thế kỷ 21, người Châu Á cũng sẽ là nguồn khách chủ yếu. Đến năm 2020, vị trí số 1 của Pháp về thu hút du khách nước ngoài năm 1998 sẽ bị Trung Quốc thay thế năm 1998 Trung Quốc mới ở vị trí số 6 và Trung Quốc sẽ trở thành điểm son của Du lịch thế giới, mỗi năm thu hút 130 triệu lượt du khách nước ngoài. Dự toán trong số du khách tới thăm Trung Quốc, một số không nhỏ sẽ ghé qua thăm Hồng K – ông từ vị trí thứ 18 năm 1998 sẽ nhảy vọt lên vị trí thứ 5, mỗi năm thu hút tới 56 triệu du khách.
Tổ chức Du lịch thế giới cũng chỉ rõ rằng, Trung Quốc là một nước lớn của thể giới, mặc dù hiện nay du khách quốc tế vẫn còn có những điều chưa vừa lòng với điều kiện vệ sinh và một số mặt khác, nhưng tiềm lực phát triển của Trung Quốc rất lớn, cùng với đà phát triển kinh tế thì môi trường sống và các mặt hàng khác sẽ được cải thiện hơn nữa, Trung Quốc có một nền văn hóa rất đa dạng và tài nguyên thắng cảnh thiên nhiên phong phú nên vẫn có một sức hấp dẫn lớn đối với du khách.
WTO khuyến nghị Trung Quốc cần phải có bảo tồn được bản sắc văn hóa của nhiều vùng khác nhau trong nước. Tuy người dân các nơi này đã quá quen thuộc với nền văn hóa và phong tục tập quán của địa phương mình, nhưng với du khách nước ngoài thì đó lại là những khám phá mới mẻ, thích thú. Các du khách Nhật Bản châu u và những vùng lãnh thổ khác của thế giới đều có những sở thích rất khác nhau khi đi đi thăm các danh lam thắng cảnh. Vì vậy phải phân loại, chọn lựa công phu các điểm tham quan, du lịch để có thể giới thiệu đúng với sở thích của từng loại du khách.
Những cố gắng mới
Ngành hàng không và những cố gắng mới trong việc mở rộng tuyến bay, trong những năm 1997 – 1998, do sự ảnh hưởng nặng nề của cuộc khủng hoảng tài chính khu vực, ngành hàng không cũng có nhiều bước gian nan. Nhưng bắt đầu từ giữa năm 1999, tình hình sản xuất – kinh doanh của Tổng công ty hàng không Việt Nam đã bắt đầu được phục hồi trở lại. Bằng nhiều biện pháp chiếm lĩnh thị trường để tăng thu, đồng thời nhờ kết quả chuyển giao thành công công nghệ khai thác, bảo dưỡng A320 từ giữa năm 1998 và một số biện pháp tiết kiệm, trong năm 1999 lợi nhuận trước thuế từ hoạt động vận tải toàn mạng đã đạt gần 500 tỷ đồng, các khó khăn về cán cân thanh toán gặp phải trong giai đoạn 1997 – 1998 đã được khắc phục hoàn toàn.
Năm 2000, thị trường vận tải Hàng không có những bước tiến vượt bậc. Ước tính đến hết tháng 12 năm 2000 Việt Nam Airlines đã thực hiện trên 26.900 chuyến bay, vận chuyển 2.859.000 hành khách, tăng gần 2% so với kế hoạch năm (tăng 11% so với cùng kỳ năm trước), trong đó có 1.688.000 khách trong nước (tăng 6,8% so với cùng kỳ) và 1.170.000 hành khách quốc tế (tăng 16% so với cùng kỳ). Riêng trong quý 3, hệ số sử dụng ghế bình quân dạy 82%, tăng 4,17 điểm so với cùng kỳ năm 1999. Thị phần vận chuyển khách quốc tế đạt 38,35% tăng 1,2% so với cùng kỳ. Các xí nghiệp phục vụ thương mại mặt đất Nội Bài, Đà Nẵng Tân Sơn Nhất đã phục vụ cho 10.900 chuyến bay của các hãng Hàng không nước ngoài với 1.488 lượt khách.
Điểm nổi bật trong hoạt động kinh doanh năm 2000 của Việt Nam Airlines là phục hồi và mở rộng mới 6 đường bay, trong đó hai đường bay Thành phố Hồ Chí Minh đi Xiêm Riệp và Quảng Châu đã thực hiện, 2 đường bay từ Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội đi Seul, đường bay xuyên Đông Dương nối liền Hà Nội, Viêng Chăn, Phnom – pênh và Thành phố Hồ Chí Minh, đường bay Thành phố Hồ Chí Minh – Tô ky ô (hợp tác với các hãng hàng không Nhật Bản) đã thực hiện trong tháng 11. Ngoài ra Việt Nam Airlines còn tăng tần suất bay trên hầu hết các đường bay quốc tế đi Ô saka, Đài Bắc, Hồng K-ông, Băng Cốc, Kualalumpur… Với các chương trình phát triển như vậy, dự kiến năm 2000, Việt Nam Airlines sẽ vận chuyển được 2,8 triệu hành khách (tăng 9,7% so với năm 1999) và 4,4 tỷ hành khách/ km (tăng 15,6% so với năm 1999).
Về chất lượng phục vụ hành khách ở mặt đất và trên không, trong năm 2000 Việt Nam Airlines cũng đã đạt được một số mặt tiến bộ. Về tổng thể chất lượng dịch vụ, Việt Nam Airlines được xếp hạng thứ 35 trong số các hãng hàng không được xếp hạng trên thế giới (2 – 3 năm trước đây chỉ xếp thứ 44) và vượt qua nhiều đối thủ cạnh tranh trong khu vực (các hãng của Hàn Quốc, Trung Quốc): đặc biệt đội ngũ tiếp viên hàng không được xếp hạng thứ 4 thế giới đối với hạng doanh nhân và thứ 7 đối với hạng du lịch.
Để đáp ứng mục tiêu và phát triển định hướng cho thời gian tới, tăng năng lực cạnh tranh trong điều kiện thị trường phát triển trở lại, củng cố nâng cao chất lượng phục vụ hành khách, lấy lại uy tín với khách hàng đồng thời tăng tính ổn định của lịch bay, cuối năm 2000 Tổng công ty Hàng không Việt Nam đã thuê bổ sung 4 máy bay trong đó có 2 Boeing 767 và 2 ATR – 72. Số lượng máy bay A320 dự kiến cũng sẽ được bổ sung thêm trong năm 2000. Đồng thời công ty đã và đang phát triển khai thác nhiều chương trình nâng cấp chất lượng trong các mảng phục vụ mặt đất, phục vụ trên không, các dịch vụ khách hàng trong hoạt động bán…
Hy vọng rằng, bước sang thiên niên kỷ mới, ngành hàng không Việt Nam ngày càng phát triển và tăng thêm nhiều chuyến bay hơn nữa để phục vụ nhu cầu ngày một cao của khách hàng.
Hữu Nghị – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT – DL – Hà Nội – Số 55 (191) – Năm 2001

Đến mùa cây trái nhớ về Suối Tiên

Theo thông lệ vào dịp Tết Đoan Ngọ 5 tháng 5 âm lịch hàng năm khu di lịch văn hóa Suối Tiên, thành phố Hồ Chí Minh mở “Hội trái cây truyền thống”, quy tụ các loại trái cây từ khắp các miền đất nước mà như câu ca đất đỏi quen thuộc với những người đất phương Nam.
Dù ai đi đâu về đâu,
Đến ngày cây trái nhớ về Suối Tiên. Năm nay, Hội trái cây truyền thống lần thứ năm 2001 ở Suối Tiên thật nhộn nhịp với không khí mừng ngày Quốc tế thiếu nhi 1/6. Các gian hàng trái cây được chuẩn bị đầy đủ: sầu riêng Cái Mơn, xoài cát Hòa Lộc, dừa xiêm, chôm chôm Lái Thiêu, hoa quả Đà Lạt, bơ sáp Đồng Nai, vải thiều Hải Dương, mít tố nữ Long Khánh, bưởi thanh trà Hậu Giang…
Đặc biệt Hội trái thi nghệ thuật tạo hình trái cây, chưng bằng trái cây, chứng bằng cây, hoa, củ, quả quý hiếm với hàng trăm tác phẩm độc đáo lạ mắt của các nghệ nhân tài hoa về tham dự. “Hội thi đá dế và hội thi đá cá lia thia” gồm các nghệ nhân nhỏ tuổi thi thố tài năng, hấp dẫn, vui nhộn cũng được tổ chức thông hành. Đến Suối Tiên những ngày này chúng ta sẽ được thưởng thức những bữa tiệc trái cây hấp dẫn với hương vị thơm ngon phục vụ suốt mùa hè với giá cả hợp lý. Ngoài ra, còn được xem triển lãm bon sai và non bộ đủ loại, biểu diễn chim sơn ca, họa mi và chích chòe hót, một chương trình sân khấu hóa huyền sử Sơn Tinh – Thủy Tinh hoàng tráng, chương trình ca múa nhạc thiếu nhi, thi vui về trái cây, diễu hành trái cây rất sinh động.
Khu du lịch văn hóa Suối Tiên, nằm cạnh xa lộ Hà Nội, dưới tán lá rừng xanh được mệnh danh là lá phổi xanh của thành phố, bên dòng suối tiên trong xanh, mát rượi quyện hương thơm ngào ngạt của hoa quả và tiếng chim hót líu lo, báo hiệu một mùa hè đầy kỷ niệm. Suối Tiên với quần thể bồng lai tiên cảnh, những công trình văn hóa lịch sử, quy mô hoành tráng và đầy ấn tượng và nhiều loại hình giải trí cao cấp hiện đại, luôn luôn đổi mới theo thời gian để dành cho du khách những gì yêu thích nhất.
Du lịch Suối Tiên hè 2001.
Với chương trình phục vụ hè đặc biệt dành cho các em học sinh, các cháu thiếu nhi: Vui tươi – hấp dẫn – bổ ích.
Bắt đầu từ 1/6/2001 – ngày Quốc tế thiếu nhi là “Hội trái cây” truyền thống, với:
Hàng trăm loại trái cây ngon đặc sản – đa dạng – giá rẻ bất ngờ. Các gian hàng bắt đầu phục vụ từ 1/6/2001 cho đến hết mùa hè.
Chương trình biểu diện văn nghệ đặc sắc của:
Đội văn nghệ nhà thiếu nhi quận 8 TP. HCM “Hát về cây trái vườn tiên”.
Đội văn nghệ nhà văn hóa thiếu nhi tỉnh Bình Dương: Vui hát mùa hè.
Sân khấu bé vui bé hát tại vườn nhãn, lien tục diễn ra hàng tuần với quà tặng trái cây dành cho mỗi cháu khi tham gia.
Một sân chơi thật hấp dẫn dành cho các cuộc thi nhà vô địch với những chú cá chú dế hay đệ nhất cùng nhiều hần thưởng xứng đáng được tổ chức vào ngày thứ 7 và chủ nhật hàng tuần.
Biểu diễn múa rối với các vở diễn hay nhất của đoàn nghệ thuật rối TP. HCM hoàn toàn miễn phí.
Tham gia diễu hành với những trái cây khổng lồ! Vui nhộn lý thú.
Tặng bong bóng cho các em thiếu nhi.
Đặc biệt: Mừng Tết Đoan Ngọ Mồng 5 tháng 5 m lịch là cuộc thi truyền thống về:
Nghệ thuật tạo hình bằng trái cây. Cuộc tranh tài giữa các nghệ nhân với hàng trăm tác phẩm kỳ thú. Diễn ra vào ngày 23, 24, 24/6/2001.
Biễu diễn chim chích chòe hót.
Chương trình: Sân kháu hóa Sơn Tinh – Thủy Tinh với các pha đấu phép, những hiệu ứng đặc biệt ly kỳ hấp dẫn . Được biểu diễn vào vào các thứ 7 chủ nhật hàng tuần trong suốt mùa hè.
Cung vàng điện ngọc: đẹp đẽ, rực rỡ và là mơi để du khách tham quan hóa than thành những nhân vật mình yêu thích.
Các đại cung huyền ảo kỳ bí đầy ý nghĩa như: Mí mật Cổ Loa Thành, Thiên đình Cung, Kỳ Lân Cung, Phụng Hoàng Cung, Sơn Cung, Thủy Cung.
Mùa hè này, đến Suối Tiên các em và gia đình hãy nhớ ghé Nhà hàng Suối Tiên một bất ngờ độc đáo với cơm đặc sản Suối Tiên ngon, lạ miệng, giá rẻ bất ngờ.
Chỉ với 70.000đ: Suất ăn cho cả gia đình từ 4 -5 người.
Với các món: cơm niêu , cá điêu hồng kho tộ + xào chua ngọt + canh.
Rau muống xào tỏi, tàu hủ chiêng giòn…
Tặng thêm: trái cây tráng miệng + 1 chai nước Suối Tiên – giàu khoáng chất được sản xuất tại nguồn Vĩnh Hõa: Sản phẩm mới chất lượng cao.
Có tổ chức phục vụ cơm phần đặc sản dành cho học sinh trường học.
Suối Tiên với cảnh quan tươi đẹp, ba tầng bóng mát phủ rợp khắp nơi, 45 loại hình vui chơi giải trí hiện đại hấp dấn, 36 công trình tham quan được tôn tạo đầy ấn tượng sẽ là chương trình phục vụ mùa hè vui tươi hấp dẫn bổ ích. Suối Tiên một địa chỉ nghỉ hè đáng tin cậy của trường học và gia đình.
Suối Tiên của chúng tôi là một vùng đất tứ linh với Long Lân Quy Phụng, là nơi an lành hạnh phúc và luôn đem lại nhiều may mắn cho gia đình bạn.
Du lịch văn hóa Suối Tiên hân hạnh phục vụ quý khách.
Mạnh Hùng – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 23 (188) 2001

Du lịch Lạng Sơn tiến vào thế kỷ XXI – Phần 2

Ủy ban nhân dân tỉnh đã thành lập Ban chỉ đạo phát triển du lịch của tỉnh để làm công tác tham mưu chỉ đạo điều hành công tác du lịch trên địa bàn đúng các quy định của Nhà nước; xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Lạng Sơn đến năm 2010; xây dựng quy hoạch chi tiết một số khu du lịch trọng điểm như khu du lịch Thành Nhà Mạc, khu du lịch Tam Thanh, Nhị Thanh; lập và triển khai các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng tại các khu du lịch…
Các tài nguyên du lịch của địa phương, các danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử văn hóa đã từng được tôn tạo, khôi phục và khai thác. Đội ngũ cán bộ, nhân viên trong ngành du lịch được quan tâm đào tạo nên đã có bước trưởng thành, trình độ quản lý, kinh doanh và chất lượng dịch vụ đã có nhiều tiến bộ.
Số doanh nghiệp du lịch, dịch vụ hoạt động trên địa bàn tỉnh ngày càng tăng, năm 1993 mới có 8 đơn vị, đến năm 2000 đã có 29 đơn vị. Hệ thống cơ sở vật chất trong ngành du lịch và các dịch vụ liên quan được đầu tư, bổ sung về cả số lượng và chất lượng, ngày càng đáp ứng nhu cầu của khách tham quan du lịch.
Ngành du lịch Lạng Sơn đã có bước phát triển nhanh từ những năm đầu của thế kỷ 90. Số lượng du khách du lịch và doanh thu du lịch tăng dần qua các năm. Năm 1990 mới đón được 39.000 lượt khách, doanh thu đạt 17 tỷ đồng, năm 1995 đón đuợc 95.000 lượt khách doanh thu đạt 45,5 tỷ đồng, năm 1999 đón được 148.000 lượt khách doanh thu đạt được 62 tỷ đồng, đến năm 2000 đã đón được 180.000 lượt khách (trong đó có 60.000 lượt khách nước ngoài), doanh thu đạt 74 tỷ đồng. Du lịch phát triển đã tạo thêm việc làm cho người lao động, các lĩnh vực khách sạn, nhà hàng phát triển góp phần tích cực thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phương.
Đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn.
Trong thập kỷ đầu của thế kỷ XXI ngành du lịch Lạng Sơn phát triển phải đạt được mục tiêu tổng quát là; Phát triển du lịch tương xứng với tiềm năng, thế mạnh trên địa bàn để nhanh chóng trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh. Phát triển du phải tạo được sự liên kết chặt chẽ giữa các ngành kinh tế, văn hóa, xã hội, phải gắn với việc giữ gìn và phát huy truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc, kết hợp với bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái; giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội để du lịch Lạng Sơn trở thành một trong những trung tâm du lịch lớn nhất của vùng Đông Bắc của đất nước.
Để thực hiện mục tiêu trên, từ năm 2000 đến năm 2010, du lịch LạngSơn phải thực hiện những nhiệm vụ cụ thể như là:
Đẩy mạnh đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật, tôn tạo, nâng cấp các khu du lịch, các di tích, danh thắng hiện có và mở rộng theo quy hoạch các dự án đã được phê diệt bằng nhiều nguồn lực, khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư xây dựng các cơ sở du lịch, dịch vụ du lịch, khách sạn, nhà hàng, cửa hàng, các điểm vui chơi, giải trí…
Mở rộng và phát triển các loại hình du lịch. Hình thành các điểm, cụm, tuyến du lịch để khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên du lịch phong phú. Phát triển mạnh du lịch lữ hành quốc tế. Từng bước mở thêm các điểm du lịch mới, tạo ra các sản phẩm du lịch đặc sắc, thể hiện đậm nét giá trị văn hóa và thiên nhiên Xứ Lạng, có sức thu hút du khách trong nước và quốc tế.
Phối hợp với các tỉnh, thành phố trong cả nước nối các tour, tuyến du lịch từ các địa phương khác đến Lạng Sơn và đi tham quan du lịch Trung Quốc, khai thác du lịch và thị trường quốc tế, trước hết là khách du lịch Trung Quốc đi tham quan du lịch các địa phương trong cả nước.
Được sự quan tâm chỉ đạo giúp đỡ của Tổng cục Du lịch, sự hợp tác chặt chẽ, có hiệu quả của các bộ, ngành, của các địa phương trong cả nước, cùng với sự phấn đấu không ngừng của các doanh nghiệp du lịch, dịch vụ và của nhân dân các dân tộc Lạng Sơn sẽ vững bước đi lên trong thế kỷ XXI
Minh Hương – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 22 (187) 2001

Du lịch Lạng Sơn tiến vào thế kỷ XXI – Phần 1

Đào Bá Nhiên Phó bí thư tỉnh ủy Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn
Lạng Sơn là tỉnh miền núi biên giới phiên dịch phía bắc của Tổ quốc, với diện tích tự nhiên là 8.187,25 km2, có 253 km đường biên giới tiếp giáp với nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Là đầu mối đường sắt liên vận quốc tế, là điểm huyết mạch giao thông xuyên Việt. Trong những năm gần đây Lạng Sơn đã trở thành một trung tâm buôn bán, du lịch sôi động, sầm uất của các khu vực Đông Bắc. Là một trong những chiếc nôi của loài người, từ bao đời nay, Xứ Lạng đã nổi tiếng với những hang động, những danh thắng đặc sắc như: Núi Nàng Tô Thị, chùa Tam Thanh, động Nhị Thanh, chùa Tiên, núi Mẫu Sơn… và những địa danh lịch sử như Ải Chi Lăng, Bắc Sơn, Đường số 4…
Phát huy lợi thế về vị trí địa lý, về nguồn tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên văn hóa phong phú, trong xu thế quốc tế hóa nền kinh tế, du lịch Xứ Lạng đang từng bước hội nhập với khu vực và thế giới để phát triển, trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh trong thế kỷ XXI.
Tài nguyên du lịch đa dạng.
Theo sách Đại Nam thống nhất chí thì Xứ Lạng có trên 500 di tích, trong đó có 15 điểm, khu di tích đã đựơc xếp hạng Quốc gia.
Thiên nhiên hoà phóng ban tặng Xứ Lạng báu vật hàng triệu năm của tạo hoá, đó là những dãy núi đá voi đồ sộ, điệp trùng, hoành tráng, hiểm trở và huyền bí ẩn chứa các hang động, đựơc tận mắt chứng kiến những chặng đường tiến hoá của nhân loại từ thời tiền sử, sơ sử đến lịch sử hiện đại mà móc nào cũng là những dấu son độc đáo và hấp dẫn. Với tổng số hơn 200 hang động lớn nhỏ, tiềm năng du lịch hang động của Xứ Lạng rất lớn và có sức thu hút mạnh đối với du lịch mọi miền trong nước và quốc tế.
Người Xứ Lạng đã sáng tạo nên một kho tàng văn hóa phong phú, đậm đà bản sắc. Một vùng âm nhạc dân gian độc đáo với những làng điệu Sli, lượn, thêm cùng với những tiếng đàn tính, đàn Pí lè làm say đắm lòng du khách. Xứ Lạng cũng nổi tiếng với những lễ hội truyền thống như các lễ hội Đền Mẫu – Đồng Đăng, lễ hội Bản Ngà huyện Cao Lộc, đặc biệt là lễ hội chùa Tiên. Đến Lạng Sơn du khách cũng bị cuốn hút bởi phiên chợ Xứ Lạng, bởi đây không chỉ là nơi buôn bán sầm uất mà còn là nơi sinh hoạt văn hóa, nơi trẻ già, trai gái đến gặp gỡ và trao đổi tâm tình, để hát và nghe. Đó là những nét văn hóa đặc sắc, là nguồn tài sản nhân văn vô giá để thu hút khách du lịch thập phương.
Bên cạnh những cảnh quan thơ mộng và nền văn hóa đậm đà bản sắc, Xứ Lạng còn có những sản vật nổi tiếng như hồi Văn Quan, quýt Bắc Sơn, hồng Bảo Lâm, na Chi Lăng, đào Mẫu Sơn, lê Tràng Định, dưa hấu Lộc Bình…cùng với một số nghệ thuật ẩm thực tuyệt diệu mang đặc trưng Xứ Lạng như vịt quay, thịt lợn quay, phở chua… đó là những hành trang cùng du lịch Xứ Lạng tiến vào thiên niên kỷ mới.
Du lịch Lạng Sơn thời kỳ đổi mới.
Có thể nói Xứ Lạng có một tiềm năng du lịch thực sự phong phú, đa dạng. Nhưng tiềm năng đó chỉ được khơi dậy và phát huy từ khi có chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước. Những năm vừa qua, Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh đã lãnh đạo, chỉ đạo các sở, Ban, Ngành, các doanh nghiệp, các đơn vị thực hiện thống nhất các hoạt động du lịch trên địa bàn.
Minh Hương – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 22 (187) 2001

Bán… ruộng không văn tự!

Vài năm trở lại đây, dân xã Minh Trí (một xã nghèo của Sóc Sơn) và lân cận đều biết rằng ở khu kinh tế mới Ban Tiện (Minh Trí) có rất nhiều đất sét trắng (cao lanh). Đây là nguồn nguyên liệu mà các làng gốm như Bát Tràng, Thổ Hà… rất cần. Cao lanh là một dạng tài nguyên thiên nhiên do Nhà nước quản lý. Mặc dù vậy, từ năm 1996 đã xảy ra những vụ khai thác trái phép ở Minh Trí. Đến năm 1998, hoạt động này tạm thời được chính quyền xã ngăn chặn. Tuy nhiên, đầu tháng 3/2001, “khu mỏ” trên lại tiếp tục hoạt động, lần này với quy mô lớn hơn.
Muốn bao nhiêu, có bấy nhiêu?
Trong vai những người của làng gốm Bát Tràng tìm mua cao lanh, chúng tôi vào nhà một bà già ở thôn Gia Nông. Bà cho biết: Muốn mua bao nhiêu cũng đáp ứng được. Đất ở đây có ba loại, loại tốt nhất 40.000 đồng/khối. Hỏi chuyện, chúng tôi mới biết rằng bà cũng chỉ là người bán ruộng (?) cho cai thầu đất. Thấy chúng tôi có vẻ chưa hiểu, người đàn bà giải thích: ở đây có 5 – 6 ông cai thầu đất. Biết ruộng của một số hộ có nhiều cao lanh, “đánh hơi” được mối hời, họ bèn “thầu” lại phần ruộng của những gia đình kia bằng cách cho chủ hộ vài triệu bạc, đổi lại, những ông cai được quyền khai thác đất sét trên bề mặt ruộng. Và máy xúc, xe tải bắt đầu ra vào tấp nập. Một người đàn ông tên Điền cho biết: Mỗi ngày có hàng chục lượt xe chở đất chạy qua xóm. Làm ăn phát đạt nhất là các ông cai Trần Hoàng Đông (thôn Ban Tiện), Phùng Minh Long (thôn Gò Gạo), Tạ Văn Đến (thôn Vụ Bản)… Thấy chúng tôi có vẻ “nhiệt tình” hỏi han, người đàn bà quát con đi gọi ông cai Long đến để thỏa thuận giá cả! Anh con trai, như để chúng tôi tin hơn, nói thêm: Mua đất của anh Long là đảm bảo vì anh ấy đã làm thủ tục đăng ký khai thác với chính quyền xã (!?). Nếu xe ô tô các anh có bị chặn lại, cứ bảo anh Long đưa giấy (?) ra, sẽ được cho qua. Nói như thế bởi vì có mấy nhà vẫn chưa làm “thủ tục” đầy đủ. Ngày mai, anh Long bảo sẽ có xe của ông Th. béo ở Bát Tràng lên “ăn” đất đấy!
Chúng tôi ra thăm “khu mỏ”. Một khoảng đất rộng xấp xỉ 3 mẫu bị đào bới nham nhở sâu tới gần 4m. Đất sét trắng được đổ ngổn ngang chờ người đến mua. Ước tính số đất bị móc lên phải lên tới 30.000m3. Không ai ngờ được trước đây chỗ này là ruộng lúa!
Chính quyền địa phương nói gì?
Ông Đinh Văn Đều – Chủ tịch xã Minh Trí cho hay: từ đầu tháng 3, khi biết về sự việc trên, xã đã tổ chức quản lý bằng cách thu lệ phí (!?). Mức phí là 7.000 đồng/m3. Biết rằng việc khai thác là vi phạm quy định của Nhà nước, nhưng vì đây là xã nghèo, vùng sâu, vùng xa… Chúng tôi vừa phải hoàn thành phòng họp của Ủy ban nhân dân xã, cống thoát nước (!)… Tuy nhiên, sáng 11/4/2001 chính quyền xã đã họp để tìm biện pháp chấm dứt tình trạng khai thác cao lanh trái phép trên địa bàn.
Theo chúng tôi, việc khai thác cao lanh ở Minh Trí đã diễn ra nhiều năm, như vậy chưa có gì bảo đảm là trong thời gian tới đất ruộng ở đây sẽ không bị nóc lên đem bán nữa. Để mọi việc đi vào quy củ, không thể chỉ trông chờ vào cấp xã. Ủy ban nhân dân huyện Sóc Sơn cần phối hợp với các ngành chức năng khảo sát đánh giá trữ lượng cao lanh trên địa bàn xã Minh Trí, có biện pháp quản lý chặt chẽ. Theo quan sát của chúng tôi, các khu vực khác của Minh Trí cũng rất có thể có cao lanh. Nếu như cứ thả lỏng quản lý như hiện nay thì rất có thể không chỉ ruộng ở khu Ban Tiện bị “bốc hơi” mà tình trạng này sẽ lan sang các khu vực lân cận. Đến lúc đó, tài nguyên quốc gia bị thất thoát mà đất cày cấy cho nông dân nghèo Minh Trí cũng chẳng còn. Được biết, Minh Trí là một trong những xã nghèo nhất huyện Sóc Sơn. Nguồn sống của dân chủ yếu trông vào ruộng đồng. Không hiểu khi mất ruộng, dân Minh Trí sẽ trông vào đâu để sống?
Nguyễn Hoàng – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 18(181)2001

Ca nhạc Việt Nam

Ca nhạc Việt Nam – một năm nhìn lại. Nếu như cách đây vài năm, giới trẻ chỉ chờ đợi những sản phẩm ca nhạc của cộng đồng người Việt tại hải ngoại như Thúy Nga Paris, Làng Vân, Mây Production, … thì tình hình hiện nay đã khác. Kể từ khi “Làn sóng xanh” của Đài tiếng nói nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ra đời, nhạc Việt Nam được sáng tác trình bày bởi những ca sĩ – nhạc sĩ trong nước đã thực sự làm một cuộc đổi ngôi. Đã qua rồi cái thời ra rả từ ngoài ra phố những tiếng hạt của Elvis Phương, Don Hồ, Nguyễn Hưng, Như Quỳnh, … mà thay vào đó là Hồng Nhung, Phương Thanh, Lam Trường… với những ca khúc của các nhạc sĩ tên tuổi trong nước như Trịnh Công Sơn, Phú Quang, Dương Thụ; và ngay cả những người viết nhạc còn rất trẻ như Việt Anh, Đức Trí, Võ Thiên Thanh. Khán giả đã không còn phải nghe “Trái tim ngục tù”, “Đừng xa em đêm nay” hay “Dĩ vãng” trên những sân khấu ca nhạc trong nước và ngược lại, “Mê khúc”, “Em ơi Hà Nội phố”, “Bên em là biển rộng”… được các ca sĩ hải ngoại chọn hát rất nhiều. Từ chỗ “hướng ngoại” ca nhạc Việt Nam đã trở thành tâm điểm để ca nhạc hải ngoại “hướng nội”.
Trong năm 2000 này, rất nhiều chương trình ca nhạc lớn nhỏ đã được tổ chức khắp đất nước. Từ thành phố Hồ Chí Minh đến Hà Nội, từ những nhà hát lớn đến những sân bãi tạm bợ ở vùng xa, những ca sĩ Việt Nam đã khẳng định được vị trí của mình trong lòng công chúng mộ điệu. Và trong đó, không nơi nào khác, thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm cả nước với những chương trình hoành tráng được đầu tư nhiều tốn kém cả về tiền bạc lẫn công sức. Có thể kể ra đây những “Làn sóng xanh 2000”, “Sắc màu đêm Sài Gòn”, “Ấn tượng Sài Gòn 4”… mà nổi trội hơn cả là “Duyên dáng Việt Nam 9”. Có thể nói, với uy tín của mình “Duyên dáng Việt Nam đã nghiễm nhiên trở thành một chương trình mẫu mực trong công nghệ tổ chức biểu diễn hiện nay, phần lớn các ca khúc được sử dụng là những sáng tác trong nước và được khán giả, nhất là giới trẻ đón nhận một cách nồng nhiệt…
Song song với việc biểu diễn sân khấu, thị trường băng đĩa nhạc cũng sôi động không kém. Đã có rất nhiều lời kêu cứu từ các nhà sản xuất về việc in sang băng đĩa lậu, nhưng suy nghĩ cho cùng, đây vẫn là thời kỳ hoàng kim nhất của công nghệ ghi âm Việt Nam. Tuy chỉ cần 10.000 đồng là có được một đĩa CD chép lậu với hàng chục bài hát thịnh hành, nhưng khán giả vẫn bỏ ra một số tiền lớn hơn gấp nhiều lần để mua những chương trình CD chính hiệu của các hãng băng đĩa trong nước bởi chất lượng âm thanh cao, bao bì in ấn đẹp ấn tượng hơn.
Nâng cao chất lượng của du lịch
Nâng cao chất lượng, hiệu quả lao động khẳng định vị thế của du lịch trong thế kỷ mới. Việt Nam là một nước giàu tài nguyên du lịch. Lịch sử hàng ngàn năm văn hiến đã hình thành nên một nền văn hóa truyền thống mang đậm bản sắc dân tộc. Bên cạnh đó những phong cảnh thiên nhiên còn đậm nét hoang sơ cũng tạo nên sức thu hút lớn đối với du lịch trong và ngoài nước. Đặc biệt các địa danh Hạ Long, Huế, Mỹ Sơn, Hội An đã được UNESCO công nhận là Di sản thiên nhiên và văn hóa thế giới, càng làm tăng thêm sức hấp dẫn của Du lịch Việt Nam.
Để phát huy thế mạnh các tiềm năng du lịch nước ta, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương chính sách quan tâm sâu sắc. Các nghị quyết đại hội đảng toàn quốc lần thứ 7, 8 đã xác định du lịch là ngành kinh tế quan trọng của đất nước. Tháng 11 năm 1998 thông báo kết luận của Bộ chính trị về phát triển du lịch trong tình hình mới đã mở ra một bước ngoặt quan trọng cho du lịch. Pháp lệnh du lịch được ban hành, Ban chỉ đạo Nhà nước về Du lịch được thành lập, Chương trình hành động quốc gia về du lịch và các sự kiện du lịch năm 2000 được thông qua và triển khai. Dưới sự chỉ đạo của Đảng và Chính phủ, với việc triển khai hiệu quả các chủ trương chính sách vừa nêu, trong những năm qua Du lịch Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả to lớn. Lượng khách quốc tế từ 250.000 lượt người năm 1990 đã tăng lên 1 triệu năm 1994 và vượt mức trước kế hoạch 2 triệu lượt khách trong năm 2000. Lượng khách nội địa cũng tăng nhanh từ 1.5 triệu lượt người năm 1990, đến năm 1999 đạt 10.4 triệu và trên 11 triệu người năm 2000. Thu nhập xã hội từ du lịch mỗi năm hiện đạt trên 15.000 tỷ đồng. Du lịch đã thu hút 200.000 lao động trực tiếp và hàng vạn lao động gián tiếp. Với lịch sử 40 năm phát triển của mình. Du lịch Việt Nam ngày càng đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh và ổn định, khẳng định vị thế quan trọng trong cơ cấu nền kinh tế quốc dân. Hoạt động du lịch đã thu hút được sự chú ý của toàn xã hội. Thông qua công tác chỉ đạo của Ban chỉ đạo Nhà nước về Du lịch và 32 Ban Chỉ đạo địa phương các tỉnh, thành phố cũng như với nhiều hoạt động quan tâm cụ thể khác, ý thức của các cấp, các ngành, và cộng đồng dân cư về lợi ích nhiều mặt của Du lịch đã ngày càng rõ nét hơn. Trên trường quốc tế cả hình ảnh của Du lịch nói riêng được nâng lên một tầm cao mới khẳng định Việt Nam là một điểm đến hấp dẫn của thiên nhiên kỷ mới.
Trương Hoàng Phú – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT – DL – Hà Nội – Số 55 (191) – Năm 2001

Tổ chức lớp bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý du lịch – khách sạn

Sở Thương mại – Du lịch Thái Nguyên vừa mở lớp bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý Du lịch – Khách sạn cho các cán bộ quản lý nhà nước về du lịch, cán bộ quản lý các doanh nghiệp du lịch khách sạn, các nhà khách, nhà nghỉ thuộc các thành phần kinh tế trên địa bàn, Đồng chí Nguyễn Phú Đức – Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch đã tới dự.
Lớp học kéo dài trong 2 tuần, có 50 học viên tham dự. Chương trình bồi dưỡng gồm nhiều nội dung: Marketing trong kinh doanh khách sạn; tâm lý khách du lịch, nghệ thuật giao tiếp, ứng xử trong kinh doanh khách sạn; qui chế quản lý lữ hành nội địa và quốc tế; tổ chức lao động và hướng bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn cho cán bộ nhân viên trong khách sạn. Các học viên cũng sẽ được nghe về tình hình phát triển du lịch trên thế giới, ở Việt Nam và chiến lược phát triển du lịch trong nước và ở tỉnh.
Kết thúc đợt học, các học viên sẽ được cấp chứng chỉ.
Cảnh giác khi đi mua thực phẩm
Tính từ năm 1997 – 2000, toàn quốc có 1.391 vụ ngộ độc thực phẩm với 25.509 người mắc bệnh, trong đó 217 người chết. Đặc biệt có tới 4.287.180 người mắc các bệnh (chủ yếu qua đường ăn uống) như: tả, lỵ, thương hàn, tiêu chảy. Nguyên nhân chính gây ra tình trạng trên là do việc sử dụng các loại hóa chất: hàn the, chất tạo màu, phoocmôn… một cách bừa bãi. Nhưng hiện nay trên thị trường còn có nhiều hình thức vi phạm vệ sinh an toàn thực phẩm mà người tiêu dùng cũng như các nhà chức trách ít biết đến để tìm biện pháp ngăn chặn và phòng ngừa.
Dưa đỏ… đỏ vì giấy hương!
Vào mùa hè, dưa hấu là loại hoa quả được nhiều người ưa thích. Nhưng khi mua (đặc biệt của những người bán hàng rong) bạn phải thận trọng bởi chưa chắc dưa đỏ là ngon. Tôi đã tận mắt chứng kiến nhiều anh chị xe thổ chui vào ngõ hẻm dùng bao hương đỏ xát vào bề mặt quả dưa đã được bổ ra để tạo màu. Đồng thời qua điều tra được biết, họ còn dùng nước đường hóa học vẩy vào để dưa được ngọt hơn. Vì thế tốt nhất là mua cả quả, nếu không yêu cầu người bán hàng phải bổ dưa ngay trước mặt mình.
Thịt, cá ôi “tươi” bởi tiết!
Ngoài việc dùng hàn the hay phoocmôn để bảo quản cá, thịt, những nhà buôn (nhất là buôn bán nhỏ) còn dùng hình thức làm tươi khác: dùng tiết lợn, tiết cá chà lên số cá, thịt, tim gan bán ế hôm trước để lừa khách hàng.
Chúng tôi xin được đưa ra một số thông tin về những “chiêu lừa” để bạn đọc cảnh giác khi đi mua thực phẩm, hoa quả. Trước khi chờ sự can thiệp của các cơ quan chức năng, chúng ta hãy tự bảo vệ sức khỏe của chính mình.
Đầu năm 2002 khởi công xây dựng đường hầm qua sông sài gòn
Cuối tháng 3/2001, Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã họp với các cơ quan chức năng bàn việc đền bù, giải tỏa và tái định cư các hộ dân ở 3 quận: 1, 5 và 6, chuẩn bị đến năm 2002 sẽ khởi công xây dựng công trình đại lộ Đông – Tây và đường hầm xuyên qua Thủ Thiêm (có đoạn chạy ngầm dưới sông Sài Gòn). Công trình có tổng chiều dài 21,8km, đi qua 6 quận, với tổng số vốn đầu tư 8.000 tỷ đồng. Đây là công trình đường ngầm đầu tiên và lớn nhất nước ta dành cho đô thị, được xây dựng theo tiêu chuẩn hiện đại. Việc thiết kế, tư vấn sẽ do công ty nước ngoài đảm nhiệm thông qua đấu thầu.
Thái Hoàng – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 17(181)2001

Các phương tiện vận chuyển khách du lịch

Trao đổi vấn đề hậu kiểm đối với các phương tiện vận chuyển khách du lịch.
Gần đây báo chí đề cập nhiều đến vấn đề hậu kiểm sau đăng ký kinh doanh, như hậu kiểm như thế nào, căn cứ vào đâu, là những vấn đề các cơ quan quản lý Nhà nước địa phương lung túng sau một năm Luật Doanh nghiệp đó và cuộc sống. Nếu không hậu kiểm sẽ buông lỏng quản lý, đánh mất vai trò quản lý Nhà nước, nếu “tích cực” hậu kiểm, vô tình bị hiểu là muốn duy trì quyền lực và không khéo lại phạm luật. Trong ngành du lịch, vấn đề hậu kiểm đối với các phương tiện vận chuyển khách du lịch là một ví dụ.
Từ khi thi hành Luật doanh nghiệp, bãi bỏ các loại giấy phép vận chuyển khách du lịch đến nay, rõ ràng đã tạo cơ hội cho nhiều thành phần kinh tế tham gia vào lĩnh vực kinh doanh vận chuyển khách du lịch bởi doanh nghiệp chỉ cần đăng ký kinh doanh tại phòng đăng ký kinh doanh Sở Kế hoạch Đầu tư là có thể đưa phương tiện vào hoạt động.
Trong tình hình khách du lịch quốc tế và nội địa ngày càng tăng, dịch vụ vận chuyển khách du lịch đang là mảnh đất “ăn nên làm ra” đã thu hút nhiều đơn vị, tư nhân đầu tư mua sắm phương tiện vận chuyển và dịch vụ này ngày càng sôi động, nhiều xe 12 -15 chỗ đời mới được đưa vào kinh doanh, tại thị trường đa dạng cho khách hàng, song cũng phát sinh nhiều bất cập. Trước điểm thi hành quyết định 19/2000/TTg ngày 03-02-2000 của Chính phủ về bãi bỏ các loại giấy phép trái với quy định của Luật Doanh nghiệp, nếu muốn đưa 1 xe từ 4 đến 45 chỗ cho khai thác vận chuyển khách du lịch, ngoài tiêu chuẩn kỹ thuật an toàn còn phải đảm bảo thuận tiện, văn minh, có bảo hiểm cho khách, được quy định cụ thể tại Quyết định 2418 Liên bộ Giao thông Vận tải – Tổng cục Du lịch như: Phải kẻ chữ Tourist thống nhất một mẫu theo chiều dọc xe, ghế ngồi lịch sự, sạch sẽ, cửa sổ có cửa kính và riđô che, có hệ thống thông gió, chiếu sáng tốt, có chỗ micro và loa đối với xe 45 chỗ, có bình chữa cháy và thuốc cấp cứu thông thường. Người tham gia vận chuyển (lái xe), phải biết ngoại ngữ thông dụng bằng A, có phong cách giao tiếp lịch sự, tế nhị, trang phục sạch sẽ, đeo phù hiệu tên, tuổi và tên đơn vị. Tất cả những quy định trên nhằm để cho các phương tiện vận chuyển có tính đặc thù du lịch, mang nội dung văn hóa chứ không phải là những thủ tục nhiêu khê. Thực hiện những quy định đó góp phần tạo uy tín cho du lịch, đặc biệt với du khách nước ngoài đi chương trình tour mà thông thường với các tour du lịch đường bộ, thời gian đi đường chiếm 30 – 40% quỹ thời gian dành cho cả tour. Phương tiện tốt, người phục vụ lịch sự sẽ để lại nhiều ấn tượng tốt cho khách về một đất nước, một dân tộc. Khai thác yếu tố văn hóa trong kinh doanh, dịch vụ vận chuyển khách du lịch được coi trọng như sử dụng phương tiện truyền thống trong các khu du lịch: Thuyền rồng, xe ngựa… Bởi du khách không chỉ coi phương tiện vận chuyển đơn thuần để phục vụ nhu cầu đi lại mà còn nhu cầu thưởng thức nền văn hóa, khám phá nét đẹp của mỗi vùng, mỗi địa phương. Các yếu tố văn minh trên là cần thiết, được ngầm hiểu như điều kiện kinh doanh.
Đặt ra điều kiện kinh doanh trong vận chuyển khách du lịch không có nghĩa là duy trì cơ chế “xin – cho” như trước đây, mà góp phần định hướng cho các chủ đầu tư quan tâm đến yếu tố chất lượng dịch vụ, tạo uy tín cho các đơn vị tham gia kinh doanh và cho ngành du lịch. Cũng có người cho rằng, đã kinh doanh ai mà không muốn đặt chữ tín lên hàng đầu và muốn có uy tín ắt phải đầu tư nâng cao chất lượng dịch vụ, cần gì có sự can thiệp của Nhà nước. Thiết nghĩ sự tự giác chỉ có với những đơn vị kinh doanh có vốn lớn, có ý định đầu tư lâu dài, còn tâm lý những người ít vốn, đầu tư nhỏ, chỉ cốt sao thu hồ vốn nhanh, có lãi, để chuyển hướng khi thị trường không còn hấp dẫn. Vấn đề này còn liên quan đến các công ty lữ hành có uy tín, họ hợp đồng xe có chất lượng cao, còn những công ty làm ăn theo kiểu “chụp giựt”, họ cố gắng thuê xe giá càng rẻ càng tốt và hậu quả khách gánh chịu mà khách đi du lịch thường chỉ mỗi một nơi một lần, không có lần thứ hai để rút kinh nghiệm.
Đối với người điều khiển phương tiện thì sức khỏe, tay nghề, tác phong, đạo đức, ngoại ngữ, khả năng giao tiếp phục vụ khách du lịch sẽ không được các đơn vị quan tâm thỏa đáng nếu không có những tiêu chuẩn rõ ràng hướng dẫn các doanh nghiệp.
Trong quá trình triển khai Luật đồng nghiệp, các cơ quan quản lý Nhà nước địa phương đều cho rằng các Bộ, ngành Trung ương chậm ban hành các văn bản hướng dẫn và sự chậm trễ đó dẫn đến buông lỏng quản lý, nảy sinh những bất cập gây khó khăn cho công tác hậu kiểm như Luật Doanh nghiệp đã quy định đối với các cơ quan quản lý Nhà nước chuyên ngành.
Dương Thị Thơ – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 22 (187) 2001

Du lịch quảng ninh trên đà phát triển

1.500.856 là số lượt khách đến với Quảng Ninh trong năm 2000, trong đó khách quốc tế 553.000 lượt! Số khách nội địa tăng 36%, khách quốc tế tăng 34% là một kết quả hết sức khả quan nếu so với kết quả năm 1999. Kèm theo đó là sự ăn nên làm ra của các doanh nghiệp và khách sạn. Đặc biệt, lượng khách du lịch tàu biển đạt 70.505 lượt, tăng 147% so với năm 1999. Tổng doanh thu là 326 tỷ, tăng 42%. Doanh thu từ Du lịch 223,79 tỷ đồng, tăng 28%. Các chỉ tiêu doanh thu lữ hành, cho thuê phòng, bán hàng ăn đều tăng từ 17 – 50%…
Nhờ đâu mà ngành Du lịch Quảng Ninh có được những thành công như vậy?
Trong năm 2000, ngành Du lịch Quảng Ninh đã thực hiện thành công nhiều chương trình phát triển Du lịch của tỉnh. Ngành đã tổ chức thành công Hội Du lịch Quảng Ninh 2000 và kỷ niệm 5 năm vịnh Hạ Long được công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới. Tích cực chấn chỉnh, giải quyết những tồn tại trong kinh doanh vốn rất nhạy cảm, những vướng mắc trong cơ chế quản lý làm ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của ngành. Ngành đã phối hợp với các ngành chức năng thực hiện kiểm tra các doanh nghiệp, chi nhánh công ty… hoạt động trên địa bàn, tổ chức cho các doanh nghiệp rút kinh nghiệm về hoạt động du lịch lữ hành trên hai tuyến đường bộ và đường biển, kiểm tra lại toàn bộ phương tiện đường thủy phục vụ khách thăm Vịnh và một số cơ sở lưu trú. Trong năm 2000, các cơ sở lưu trú đã được thẩm định hoặc tái thẩm định để xếp hạng. Ba khách sạn đã được đề nghị Tổng cục Du lịch xếp hạng sao (2 khách sạn 4 sao, 1 khách sạn 2 sao).
Trong cuộc thi hướng dẫn viên toàn quốc, Quảng Ninh đã có 2 hướng dẫn viên được vào vòng chung kết (trong số 20 hướng dẫn viên của cả nước). Ngành cũng đã tổ chức thành công việc cổ phần hóa doanh nghiệp đối với khách sạn Vân Hải, Xí nghiệp Giặt là thuộc Công ty Du lịch Hạ Long.
Đặc biệt, trong lĩnh vực hợp tác quốc tế, tỉnh Quảng Ninh và Quảng Tây (Trung Quốc) đã ký kết chương trình hợp tác năm 2000 và định hướng năm tiếp theo, duy trì chế độ họp định kỳ để đánh giá công việc giữa hai bên.
Ngành Du lịch cũng đã mở rộng mối quan hệ hợp tác với vùng Britany (Cộng hòa Pháp) và tranh thủ sự ủng hộ của phía bạn. Đến nay, phía Pháp đã quyết định đầu tư cho Văn phòng Du lịch tại Hạ Long tổng vốn 500.000 USD. Phía bạn cũng đã tạo điều kiện cho doanh nghiệp Quảng Ninh ký tour trực tiếp với doanh nghiệp của Pháp, mở ra triển vọng lâu dài. Một số dự án xây dựng mới như khách sạn Sài Gòn – Hạ Long, khách sạn Bạch Đằng, Câu lạc bộ biểu diễn cá heo… đã được đầu tư với số vốn 75 tỷ đồng và đang được gấp rút hoàn tất. Bên cạnh đó, các dự án cải tạo, sửa chữa, nâng cấp Công ty Du lịch Hạ Long, khách sạn Vân Hải, Công đoàn địa chất, khách sạn Hạ Long 3… cũng đã được triển khai với số vốn trên 3 tỷ đồng…
Để tiếp tục đẩy mạnh hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh, năm 2001 này, ngành Du lịch Quảng Ninh đã xác định nhiệm vụ then chốt là xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển Du lịch đến năm 2010. Tiếp tục tháo gỡ một số vấn đề còn vướng mắc trong cơ chế như: phương pháp tính thuế, lệ phí chính sách vay vốn đầu tư hay các quy định bất hợp lý về cơ sở lưu trú. Trong năm nay, ngành Du lịch cũng đã xác định tăng cường hơn nữa công tác quảng bá, đặc biệt đối với thị trường quốc tế để mở rộng và vươn tới thị trường khách có thu nhập cao. Sở Du lịch Quảng Ninh cũng đã có kế hoạch đề xuất với tỉnh mở tuyến du lịch mới Hạ Long – Cửa Lạn – Minh Châu, Hạ Long – Uông Bí – Đông Triều, xây dựng làng văn hóa dân tộc. Bên cạnh đó, tiếp tục thúc đẩy các mối quan hệ với thị trường Trung Quốc, Pháp và các nước ASEAN…
Thanh Hương – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 16(181)2001

5 thành phố nổi tiếng trên thế giới

Toronto: Thành phố an toàn. Là thành phố lớn nhất, trung tâm tài chính, thương nghiệp và văn hóa Canada. Người dân Toronto rất tự hào với danh tiếng” Toronto là thành phố New York do người Thụy Điển quản lý”. Nghĩa của câu này là Toronto có được sự phồn hoa của thành phố New York và sạch sẽ lịch sự, văn minh như Thụy Điển. Chính phủ thực hiện chính sách di dân cởi mở, môi trường sinh thái trong lành, cơ sở hạ tầng hoàn thiện, cùng có nhiều hình thức giải trí khiến Toronto có sức hấp dẫn kỳ lạ. Toronto là thành phố của Canada nhưng gốc ở quốc gia này chỉ chiếm 41% so dân trong thành phố. Toronto còn tự hào là một trong ba trung tâm diễn kịch lớn nhất Bắc Mỹ (ngoài nơi này là New York và Chicago). Ở Toronto, viện bảo vệ mỹ thuật, câu lạc bộ và công viên có mặt khắp nơi.
Môi trường ở Toronto rất tuyệt vời đã góp phần không nhỏ vào sự hấp dẫn của thành phố.
Luân Đôn: Thành phố thương mại của Châu Âu.
Trước đây ngành ăn uống của Luân Đôn kém xa các thành phố khác ở Châu u nhưng bây giờ điều đó hoàn toàn ngược lại. bất kỳ một món ăn nổi tiếng nào của thế giới cũng đều có mặt ở đây, từ các món ăn cổ truyền của Thái Lan, Trung Quốc tới các món ăn hiện đại của Meehicô hay của Mỹ. Viện bảo tàng ở Luân Đôn trước đây bám đầy bụi và rêu hong nhưng giờ đây đã khang trang sạch sẽ. Hiện nó là một trong những thành phố có tỷ lệ thất nghiệp thấp nhất thế giới. Luân Đôn với nhiều công viên đẹp, tạo nhã, giàu chất thiên nhiên sánh kịp với New York. Thành phố văn hóa này có tới 200 nhà hát, 5 giàn nhạc giao hưởng, 2 đoàn ca kịch.
Chính quyền sở tại còn rất quan tâm đến việc cởi mở chính sách kinh tế, nhằm thu hút sự đầu tư nước ngoài và kinh doanh, để có thể tô điểm thêm màu sắc văn minh, hiện đại cho thủ đô cổ kính này.
Cũng như Toronto, Luân Đôn không hoàn thành là một thành phố hoàn hảo: giao thông thường xuyên bị ách tắc, phương tiện giao thông chật chội và môi trường nhiều nơi ô nhiễm rất nặng. Đây là thiếu sót của thành phố trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng. Năm 1998, Luân Đôn có thêm một đường tàu ngầm hiện đại nên tình trạng ách tắc giao thông được giảm đi rất nhiều.
Singapore: Thành phố kinh tế phương Tây của người phương Đông. Singapore hiện là một đầu mối thương nghiệp quan trọng của Đông Nam Á. Thu nhập bình quân ở đây cao hơn ở Mỹ. nền kinh tế của hòn đảo này đủ tiêu chuẩn để chính sách với các trung tâm kinh tế nổi tiếng phương Tây.
Dân cư ở thành phố này có người Hoa, Mã Lai, Ấn Độ… đã từ lâu, thành phố của những người Á Đông ưa sạch sẽ và sống hòa lẫn với môi trường thiên nhiên này đã đặt cho mình tiêu chuẩn xây dựng thành phố hết sức đặc biệt. Giờ đây Singapore là thành phố sạch sẽ, xanh tươi, ngăn nắp. Sự quan tâm của chính phủ đối với sự chuyển động về thành phố giống như chiếc đồng hồ không bao giờ sai lệch. Tuy khá chật hẹp và nhộn nhịp nhưng giao thông ở Singapore ít khi xảy ra ách tắc vì chính phủ đã thu phí giao thông khá cao. Tội phạm hiếm thấy vì mức độ xử pháp nghiêm khắc của chính phủ. Người ta còn đặt tên cho Singapore là thành phố của cảnh sát nên an ninh trật tự ở đây gần như tuyệt đối. Liêm chính còn là đặc trưng rất nổi của Singapore và cũng là yếu tố không nhỏ góp phần vào bộ mặt Singapore như ngày hôm nay.
Paris: Thành phố đắt đỏ nổi tiếng.
Paris thật sứng danh là thành phố văn minh nhất thế giới với lịch sự phát triển lâu đời, lại nằm giữa châu u lục địa. Paris còn là thành phố có nghệ thuật nổi tiếng. Đây cũng chính là mảnh đất sinh nhiều nhạc sĩ, nhà tư tưởng, nhà văn, nhà nghệ thuật lừng danh thế giới.
Hiện nay, Paris là một trong những trung tâm thương nghiệp vào loại hàng đầu tiên của thế giới. Tại đây có cơ sở hạ tầng tốt, giàu tiềm năng nên thu hút được nhiều tập đoàn xuyên quốc gia đến kinh doanh.
Tuy nhiên, Paris lại “bị nổi tiếng” ở chỗ giá cả đắt đỏ. Nó đắt gấp 1,5 lần si với New York, một thành phố khiến người ít tiền ngại tới. Giá cả cao ở Paris đa sinh ra hàng loạt các vấn đề tiêu cực như: phạm tội, phân biệt chủng tộc…
Hồng Kông: Thành phố chật chội ồn ào.
Mỗi dặm vuông Anh ở Hồng Kông có tới 67 ngàn người sinh sống. Đó là chưa kể đến số lượng du khách, người di cư mỗi ngày tới đây rất đông. Chính vì vậy Hồng Kông ồn ào hơn cả Băng Kốc và chật chội hơn cả Tookyô Nhật Bản. Nhưng vị trí thuận lợi và điều kiện cơ sở hạ tầng tốt khiến nơi này trở thành một đô thị mang tính quốc tế. Điều khó tránhkhỏi cho một thành phố như thế là sự ồn ào, ô nhiễm và ách tắc giao thông. Người ta nghĩ tới Hồng Kông để làm ăn chứ không ai nghĩ tới đây để sinh sống. Do ách tắc giao thông mà làm cho thương gia tốn nhiều thời gian đi lại trên đường. Cuộc sống sôi động, không gian chật hẹp khiến cho bữa tiệc trở thành phương tiện kết nối tình cảm và gợi sự thân mật giữa những người sống ở nơi đây. Ở Hồng Kông, cá tụ điểm vui chơi không phải trên mặt Mỹ thuật và âm nhạc vì nó được tổ chức trong các nhà hàng. Ở Hồng Kông có tới 10.000 nhà hàng.
Thiên Phú – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 12 (177) 2001